Luận văn: Quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Đăk Tô, Kon Tum

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, cung cấp giải pháp hiệu quả cho quản lý tài chính.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

122
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện Đăk Tô

Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước là một nhiệm vụ trọng tâm, ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận hành của bộ máy nhà nước và việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đối với một huyện miền núi như Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, công tác này càng mang ý nghĩa quyết định. Chi thường xuyên là các khoản chi nhằm duy trì hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và các sự nghiệp công. Theo Luật NSNN 2015, đây là nhiệm vụ chi cốt lõi để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững. Luận văn “Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum” của tác giả Nguyễn Đức Hiển đã đi sâu phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp cho vấn đề này. Việc quản lý ngân sách hiệu quả không chỉ giúp sử dụng hợp lý nguồn lực công mà còn là nền tảng để tăng cường đầu tư phát triển, nâng cao đời sống người dân. Tại huyện Đăk Tô, với điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, việc siết chặt kỷ luật tài khóa, tối ưu hóa các khoản chi là yêu cầu cấp thiết. Công tác quản lý bao gồm toàn bộ chu trình ngân sách từ lập dự toán, chấp hành, kiểm soát và quyết toán, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng như Phòng Tài chính - Kế hoạch và Kho bạc Nhà nước.

1.1. Khái niệm và vai trò của chi thường xuyên ngân sách nhà nước

Chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) được định nghĩa trong Luật NSNN năm 2015 là “nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh”. Vai trò của nó là vô cùng quan trọng, có thể kể đến: Thứ nhất, đảm bảo sự tồn tại và vận hành liên tục, hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương. Thứ hai, là công cụ để Nhà nước thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo an sinh, công bằng và ổn định trật tự xã hội. Thứ ba, quản lý tốt chi thường xuyên sẽ tạo tiền đề để tiết kiệm, dành nguồn lực cho chi đầu tư phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

1.2. Đặc điểm chi thường xuyên tại huyện miền núi như Đăk Tô

Tại một huyện miền núi như Đăk Tô, chi thường xuyên mang những đặc điểm riêng biệt. Do điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế, nguồn thu ngân sách tại chỗ thấp, các khoản chi thường phụ thuộc lớn vào nguồn bổ sung từ ngân sách cấp trên. Các khoản chi cho sự nghiệp giáo dục, y tế, và các chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số thường chiếm tỷ trọng lớn. Bên cạnh đó, địa hình phức tạp, dân cư phân tán làm tăng chi phí vận hành, quản lý của bộ máy chính quyền cơ sở. Những yếu tố này đặt ra thách thức lớn cho công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Đăk Tô, đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý, ưu tiên các nhiệm vụ cấp bách và tăng cường giám sát để tránh lãng phí.

1.3. Các nguyên tắc cốt lõi trong quản lý ngân sách cấp huyện

Công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cấp huyện phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản. Nguyên tắc quản lý theo dự toán yêu cầu mọi khoản chi phải nằm trong dự toán đã được Hội đồng nhân dân (HĐND) phê duyệt. Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả đòi hỏi mỗi đồng ngân sách chi ra phải mang lại lợi ích tối đa cho xã hội. Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước (KBNN) đảm bảo mọi khoản chi đều được kiểm soát chặt chẽ về tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ trước khi thanh toán. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc này là chìa khóa để đảm bảo kỷ luật tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và phòng, chống lãng phí, tham nhũng.

II. Các thách thức trong quản lý chi thường xuyên ở huyện Đăk Tô

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Đăk Tô giai đoạn 2015-2018 vẫn còn đối mặt với nhiều tồn tại và thách thức. Luận văn của Nguyễn Đức Hiển chỉ ra rằng những hạn chế này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng ngân sách. Một trong những vấn đề nổi cộm là dự toán chi thường xuyên chưa sát với yêu cầu thực tế, dẫn đến việc phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần trong năm, làm giảm tính chủ động trong điều hành. Công tác chấp hành dự toán ở một số đơn vị còn chưa nghiêm, chi tiêu vượt định mức, sai mục đích vẫn xảy ra. Hơn nữa, công tác kiểm tra, giám sát chưa được thực hiện thường xuyên và quyết liệt, dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí chưa được ngăn chặn triệt để. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cấp bách phải tìm kiếm các giải pháp đồng bộ để hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao trách nhiệm của các đơn vị sử dụng ngân sách tại huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.

2.1. Thực trạng lập dự toán chi thường xuyên chưa sát thực tế

Qua phân tích số liệu giai đoạn 2015-2018, luận văn cho thấy công tác lập dự toán tại huyện Đăk Tô còn nhiều bất cập. Dự toán được xây dựng đôi khi còn mang tính hình thức, chưa dựa trên việc phân tích sâu sắc nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thực tế của từng đơn vị. Điều này dẫn đến tình trạng dự toán được tỉnh giao và dự toán huyện phân bổ cho các đơn vị có sự chênh lệch. Việc phải điều chỉnh dự toán nhiều lần trong kỳ không chỉ gây khó khăn cho công tác điều hành của cơ quan tài chính mà còn ảnh hưởng đến tính chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách. Nguyên nhân của thực trạng này bao gồm năng lực của một bộ phận cán bộ tài chính còn hạn chế và việc thiếu cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban trong quá trình xây dựng dự toán ngân sách.

2.2. Hạn chế trong công tác chấp hành và quyết toán ngân sách

Quá trình chấp hành dự toánquyết toán ngân sách cũng bộc lộ nhiều điểm yếu. Một số đơn vị chưa tuân thủ nghiêm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu, dẫn đến việc chi sai quy định. Công tác quyết toán đôi khi còn chậm trễ, số liệu báo cáo chưa đảm bảo độ chính xác, thiếu sự khớp đúng với số liệu của KBNN. Theo kết quả khảo sát trong luận văn, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Những hạn chế này làm giảm hiệu quả quản lý ngân sách, tiềm ẩn nguy cơ thất thoát và lãng phí nguồn lực của nhà nước. Để khắc phục, cần tăng cường vai trò kiểm soát của Kho bạc Nhà nước và cơ quan tài chính đồng cấp.

2.3. Yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quản lý chi tiêu

Các yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Đăk Tô cũng tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý chi. Là một huyện miền núi, kinh tế phát triển chưa bền vững, nguồn thu ngân sách hạn hẹp trong khi nhu cầu chi cho các nhiệm vụ an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo lại rất lớn. Trình độ dân trí chưa đồng đều và bộ máy quản lý ở cơ sở đôi khi còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ cũng là những rào cản. Những đặc điểm này tạo ra áp lực thường xuyên lên cán cân ngân sách, khiến việc quản lý chi thường xuyên trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi các nhà quản lý phải có những quyết sách linh hoạt nhưng vẫn phải đảm bảo tuân thủ pháp luật và nguyên tắc tài chính.

III. Tối ưu lập dự toán chi thường xuyên ngân sách huyện Đăk Tô

Để nâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Đăk Tô, giải pháp trọng tâm đầu tiên là phải hoàn thiện công tác lập và phân bổ dự toán. Đây là khâu khởi đầu, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ chu trình ngân sách. Một bản dự toán chi thường xuyên chất lượng phải được xây dựng trên cơ sở pháp lý vững chắc, phản ánh đúng nhu cầu thực tiễn và phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách. Quá trình này đòi hỏi sự tham gia và phối hợp nhịp nhàng của nhiều cơ quan, từ UBND, Phòng Tài chính - Kế hoạch đến các đơn vị sử dụng ngân sách. Việc áp dụng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu một cách khoa học, đồng thời sắp xếp các nhiệm vụ chi theo thứ tự ưu tiên sẽ giúp nguồn ngân sách nhà nước được phân bổ một cách tối ưu, tập trung vào những mục tiêu quan trọng nhất của huyện Đăk Tô. Cần phải đổi mới tư duy, chuyển từ lập dự toán theo yếu tố đầu vào sang quản lý dựa trên kết quả đầu ra để nâng cao trách nhiệm giải trình của các đơn vị.

3.1. Căn cứ và yêu cầu đối với công tác lập dự toán chi tiêu

Việc lập dự toán phải dựa trên các căn cứ pháp lý quan trọng như Luật NSNN, các nghị định của Chính phủ, thông tư của Bộ Tài chính và nghị quyết của HĐND tỉnh, huyện. Ngoài ra, cần bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các chỉ tiêu kế hoạch được giao và tình hình thực hiện dự toán của năm trước. Yêu cầu đối với công tác này là phải đảm bảo tính công khai, minh bạch, dân chủ. Dự toán phải được lập chi tiết cho từng đơn vị, từng lĩnh vực chi, đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, chống lãng phí ngay từ khâu đầu tiên. Mọi khoản chi đề xuất phải có thuyết minh, giải trình rõ ràng về cơ sở tính toán.

3.2. Quy trình lập dự toán ngân sách nhà nước cấp huyện tối ưu

Quy trình lập dự toán bắt đầu từ việc UBND cấp tỉnh hướng dẫn và giao số kiểm tra cho UBND cấp huyện. Sau đó, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện sẽ triển khai đến các đơn vị dự toán trực thuộc. Các đơn vị này lập dự toán của mình và gửi về cơ quan tài chính để tổng hợp. Phòng Tài chính - Kế hoạch có trách nhiệm thẩm định, làm việc với từng đơn vị để hoàn chỉnh dự toán chung, sau đó trình UBND huyện xem xét. Dự toán sau đó được trình HĐND huyện thảo luận và quyết định. Để quy trình này hiệu quả, cần tăng cường vai trò hướng dẫn, thẩm định của cơ quan tài chính, đồng thời nâng cao trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị trong việc xây dựng dự toán ngân sách sát với thực tế hoạt động.

3.3. Giải pháp hoàn thiện công tác lập và phân bổ dự toán

Để hoàn thiện khâu này, luận văn đề xuất một số giải pháp. Thứ nhất, cần rà soát, sửa đổi và bổ sung hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi tiêu cho phù hợp với tình hình thực tế và biến động giá cả. Thứ hai, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính - kế toán ở các cấp thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ. Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình lập và tổng hợp dự toán để tăng tính chính xác, kịp thời và minh bạch. Cuối cùng, cần tăng cường sự giám sát của HĐND và các tổ chức đoàn thể trong suốt quá trình lập và phân bổ dự toán để đảm bảo nguồn lực công được sử dụng đúng mục đích.

IV. Bí quyết chấp hành và kiểm soát chi ngân sách huyện Đăk Tô

Sau khi dự toán được phê duyệt, việc tổ chức chấp hành và kiểm soát chi hiệu quả là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Đăk Tô. Chấp hành dự toán là quá trình biến những con số kế hoạch thành hiện thực thông qua việc cấp phát và sử dụng kinh phí. Giai đoạn này đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, đặc biệt là vai trò kiểm soát của Kho bạc Nhà nước. Mọi khoản chi phải đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn và nằm trong dự toán được giao. Đồng thời, công tác quyết toán ngân sách và thanh tra, kiểm tra phải được tăng cường để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các sai phạm, xử lý nghiêm các hành vi gây thất thoát, lãng phí. Việc thực hiện tốt các khâu này không chỉ giúp đảm bảo kỷ luật tài chính mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tại huyện Đăk Tô.

4.1. Nâng cao hiệu quả công tác chấp hành dự toán chi thường xuyên

Để nâng cao hiệu quả chấp hành dự toán, trước hết cần đề cao trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị sử dụng ngân sách. Các đơn vị phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, công khai, minh bạch các khoản chi. Cơ quan tài chính và KBNN cần phối hợp chặt chẽ, đảm bảo cấp phát kinh phí kịp thời, đúng tiến độ cho các nhiệm vụ đã được duyệt. Luận văn cũng nhấn mạnh việc đẩy mạnh cơ chế khoán chi và giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Cơ chế này sẽ khuyến khích các đơn vị chủ động khai thác nguồn thu, sử dụng kinh phí một cách tiết kiệm và hiệu quả hơn, gắn trách nhiệm với kết quả công việc.

4.2. Hoàn thiện công tác kiểm soát chi và quyết toán ngân sách

Công tác kiểm soát chi của KBNN phải được thực hiện một cách chặt chẽ. KBNN có quyền từ chối thanh toán các khoản chi không đủ điều kiện, sai chế độ, tiêu chuẩn. Về quyết toán ngân sách, cần đảm bảo việc lập báo cáo phải đúng thời hạn, số liệu chính xác và phải được cơ quan tài chính thẩm định kỹ lưỡng trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc đối chiếu số liệu thường xuyên giữa đơn vị sử dụng ngân sách, cơ quan tài chính và KBNN là bắt buộc để tránh sai sót. Công khai báo cáo quyết toán là một yêu cầu quan trọng để tăng cường sự giám sát của người dân và xã hội đối với hoạt động chi tiêu công.

4.3. Tăng cường thanh tra tài chính và xử lý các vi phạm

Tăng cường hoạt động thanh tra tài chính là giải pháp hữu hiệu để phòng ngừa và ngăn chặn sai phạm. Công tác thanh tra, kiểm tra cần được tiến hành thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực, đơn vị có nguy cơ rủi ro cao. Kết luận thanh tra phải rõ ràng, khách quan và các kiến nghị xử lý phải được thực hiện nghiêm túc. Việc xử lý các vi phạm phải kịp thời, công bằng, đủ sức răn đe để củng cố kỷ luật, kỷ cương trong quản lý tài chính - ngân sách trên địa bàn huyện.

V. Kinh nghiệm thực tiễn hoàn thiện quản lý chi thường xuyên

Việc nghiên cứu kinh nghiệm từ các địa phương khác là vô cùng cần thiết để tìm ra bài học và mô hình phù hợp cho quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Đăk Tô. Luận văn của tác giả Nguyễn Đức Hiển đã phân tích các điển hình thành công tại huyện Phù Mỹ (tỉnh Bình Định) và thành phố Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên). Những địa phương này đã triển khai các biện pháp quản lý hiệu quả, giúp siết chặt kỷ luật tài chính, tăng cường tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Các bài học rút ra tập trung vào việc cải cách thủ tục hành chính, tăng cường năng lực cho cán bộ tài chính, đẩy mạnh giao quyền tự chủ và đặc biệt là nâng cao vai trò giám sát ở mọi khâu của chu trình ngân sách. Việc vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm này, có điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù của huyện Đăk Tô, sẽ là một hướng đi quan trọng để hoàn thiện công tác quản lý trong thời gian tới.

5.1. Bài học thành công từ huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định

Tại huyện Phù Mỹ, công tác quản lý ngân sách được chú trọng ngay từ khâu phân bổ. Huyện chủ động xây dựng dự toán và phân bổ ngân sách một cách chủ động, tạo điều kiện cho các đơn vị cơ sở thực hiện nhiệm vụ. Một kinh nghiệm quý báu là việc tăng cường giám sát và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ tài chính cấp xã. Huyện Phù Mỹ đã trang bị phần mềm quản lý kế toán riêng cho cấp xã, giúp chuẩn hóa công tác hạch toán và báo cáo. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc đầu tư vào con người và công nghệ để nâng cao chất lượng quản lý từ gốc.

5.2. Mô hình hiệu quả của thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên

Thành phố Tuy Hòa thành công trong việc điều hành ngân sách bám sát dự toán, hạn chế tối đa việc điều chỉnh trong năm. Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố đã tăng cường giám sát, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp chi sai chế độ. Đặc biệt, Tuy Hòa đã đi đầu trong việc đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định 141/2016/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP. Kết quả cho thấy các đơn vị được giao khoán đã chủ động hơn trong việc quản lý thu chi, nâng cao tính tiết kiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí, một bài học thực tiễn giá trị cho huyện Đăk Tô.

5.3. Vận dụng kinh nghiệm vào thực tiễn của huyện Đăk Tô

Từ kinh nghiệm của các địa phương bạn, huyện Đăk Tô có thể rút ra một số bài học cốt lõi. Một là, phải coi trọng cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý ngân sách, đơn giản hóa thủ tục. Hai là, chú trọng công tác phân tích, dự báo để việc lập dự toán có cơ sở khoa học. Ba là, mạnh dạn phân cấp quản lý và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sử dụng ngân sách. Bốn là, quản lý chặt chẽ toàn bộ chu trình ngân sách và liên tục hoàn thiện cơ chế chính sách cho phù hợp với thực tiễn. Việc áp dụng cần linh hoạt, sáng tạo, không dập khuôn máy móc để phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương.

VI. Tương lai của quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện Đăk Tô

Hướng tới tương lai, công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Đăk Tô cần được tiếp tục đổi mới và hoàn thiện một cách toàn diện. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2025 đặt ra yêu cầu ngày càng cao về hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Để đáp ứng yêu cầu đó, cần có một lộ trình cải cách rõ ràng, tập trung vào việc nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả trong quản lý tài chính. Việc áp dụng các công cụ quản lý ngân sách hiện đại, dựa trên kết quả đầu ra và kế hoạch tài chính trung hạn, sẽ là xu hướng tất yếu. Bên cạnh các giải pháp tại chỗ, sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách từ cấp Trung ương và tỉnh Kon Tum cũng đóng vai trò quyết định. Tương lai của quản lý ngân sách tại huyện Đăk Tô phụ thuộc vào sự quyết tâm chính trị, sự đồng bộ trong triển khai và sự tham gia giám sát tích cực của toàn xã hội.

6.1. Định hướng hoàn thiện quản lý ngân sách đến năm 2025

Định hướng chung đến năm 2025 là phải thiết lập một nền tài chính công lành mạnh, bền vững. Điều này đòi hỏi phải cơ cấu lại các khoản chi, ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách. Cần tiếp tục thực hiện triệt để chính sách tiết kiệm, chống lãng phí. Mục tiêu là giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách để tăng nguồn lực cho chi đầu tư phát triển. Việc quản lý phải hướng tới hiệu quả cuối cùng, gắn kết quả thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị với việc phân bổ ngân sách. Đây là một định hướng quan trọng để nâng cao hiệu quả tổng thể của nền kinh tế địa phương.

6.2. Vai trò của cải cách hành chính và công nghệ thông tin

Cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin là hai động lực chính cho đổi mới quản lý tài chính. Việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong lĩnh vực ngân sách sẽ giảm gánh nặng cho các đơn vị và doanh nghiệp. Xây dựng chính quyền điện tử, triển khai hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) một cách đồng bộ sẽ giúp tự động hóa nhiều quy trình, tăng cường tính liên thông, chính xác của dữ liệu. Công khai ngân sách trên các cổng thông tin điện tử là một bước đi cần thiết để tăng cường sự giám sát của người dân và xã hội.

6.3. Các kiến nghị đối với Trung ương và cấp tỉnh Kon Tum

Để quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Đăk Tô đạt hiệu quả cao, cần có sự hỗ trợ từ cấp trên. Luận văn đề xuất kiến nghị đối với Trung ương và tỉnh Kon Tum cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về ngân sách, đặc biệt là các định mức, tiêu chuẩn mang tính đặc thù cho các huyện miền núi, vùng sâu vùng xa. Cần tăng cường phân cấp nguồn thu cho ngân sách cấp huyện để tăng tính chủ động. Đồng thời, tỉnh cần có các chương trình hỗ trợ, đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ quản lý tài chính công cho đội ngũ cán bộ cấp huyện, xã, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện đăk tô tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý chỉ thường xuyên NSNN cấp huyện Chương 2. Thực trạng công tác quản lý chỉ thường xuyên NSNN huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chỉ thường xuyên NSNN huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.

1I CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY CHI THUONG XUYEN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CÁP HUYỆN 1. MOT SO VAN DE VE CHI THUONG XUYEN NGAN SACH NHA NƯỚC 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của ngân sách nhà nước a. Khái niệm “Ngân sách nhà nước (ngôn ngữ kinh tế học gọi là chính sách tài khoá) là việc chính phủ sử dụng thuế khóa và chỉ tiêu công cộng để điều tiết mức.

chỉ tiêu chung của nền kinh tế” [14]. Theo Luật NSNN năm 2015. “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực. hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

Thu ngân sách nhà nước bao gồm: Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chỉ phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chỉ ngân sách nhà nước bao gồm: Chỉ đầu tư phát triển; chỉ dự trữ quốc gia: chỉ thường xuyên; chỉ trả nợ lãi; chỉ viện trợ; các khoản chỉ khác theo quy định của pháp luật. Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa 12 phuong” [14]. Đặc điểm - Luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước và chứa đựng những lợi ich chung và công.

~ Là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, được chia thành nhiều quỹ. nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chỉ dùng cho những mục đích đã định. - “Luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước, được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước có thể sử dụng các công cụ sẵn có đề bắt buộc mỗi thành viên trong.

xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết. Song các chủ thể sản xuất - kinh doanh, các thành viên trong xã hội thì luôn đấu tranh đề bảo vệ lợi ích kinh tế của mình. Nghĩa là, Nhà nước không thẻ dựa vào quyền lực của mình để huy động sự đóng góp của xã hội dưới bắt kỳ hình thức nào, bằng. mọi giá phải có giới hạn hợp lý, đó chính là việc giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế Nhà nước và xã hội” [16] - “Là hoạt động phân phối lại các nguồn tải chính thông qua thu và chi 'NSNN.

Việc phân phối và phân phối lại các nguồn lực tài chính để hình thành nguồn thu của Nhà nước, dù thực hiện dưới hình thức nảo, thực chất cũng là quá trình giải quyết lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và xã hội. Phân phối nguồn lực tài chính là kết quả tài chính của các đơn vị kinh tế được chia thành hai phần, phần nộp cho NSNN và phần đe lại cho các thành viên của đơn vị. Thông qua phần nộp NSNN, Nhà nước tiếp tục phân phối lại qua các khoản cấp phát ngân sách cho mục đích tiêu dùng và đầu tư. Do vậy có thể thấy rằng, mối quan hệ kinh tế - xã hội của NSNN là quan hệ ở phạm vi rộng lớn liên quan đến mọi khu vực của nền kinh tế quốc dân” [13] 13 e Vai trò Vai trò của NSNN được xác định trên cơ sở các chức năng và nhiệm vụ cụ thế của nó trong từng giai đoạn.

Theo yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước thì vai trò NSNN cũng được thế hiện khác nhau tùy theo từng thời kỳ phát triển kinh tế và cơ chế quản lý tương ứng với từng thời kỳ đó. Vì vậy, vai trò của NSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính, là công cụ quan trọng đế Nhà nước thực hiện điều hành vĩ mô và toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội. Trong nền kinh tế thị trường vai trò của NSNN được. thay đổi và trở nên hết sức quan trọng.

Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc gia Ngân sách nhà nước có các vai trò như sau: - Huy động nguồn tài chính đế đảm bảo các nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước, đồng thời NSNN thực hiện cân đối giữa các khoản thu và các khoản chỉ (bằng tiền) của Nhà nước. Đây là vai trò lịch sử của NSNN mà bắt cứ cơ chế kinh tế nào, hình thái kinh tế - xã hội nào cũng phải thực hiện. - Điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội: Trong thời kỳ kinh tế thị trường thì sản xuất hàng hóa mang tính phổ biến và là nền kinh tế mà mọi quan hệ kinh tế - xã hội cơ bản được giải quyết thông qua thị trường. Tuy nhiên, kinh tế thị trường với mặt trái là những khuyết tật cần được khắc phục.

Chính vì vậy, sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường là tắt yếu khách quan. ~ Điều chỉnh cơ cầu kinh tế thông qua các hoạt động thu, chỉ: “Thông qua các sắc thuế, là công cụ của NSNN và là nguồn thu chủ yếu của NSNN, có tác dụng để khuyến khích, mở rộng sản xuất. Những mặt hàng. sản xuất trong nước, hàng xuất khẩu cần khuyến khích và tạo điều kiện cho.

cạnh tranh với hàng hóa trong khu vực và trên thế giới, nhất là hiện nay trong. điều kiện toàn cầu hóa, Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với những thời cơ và thách thức mới; cho nên cần phải có chính sách động viên NSNN hợp lý. chính vì thế, thông qua chính sách thuế, không chỉ 14 tập trung nguồn thu cho NSNN mà còn góp phần thực hiện vai trò định hướng. đầu tư, điều chỉnh cơ cấu n ¡nh tế phát triển theo hướng tích cực, kích thích hoặc hạn chế sản xuất nh doanh.

Ngoài công cụ thuế còn có khoản thu từ nguồn vay nợ trong nước và ngoài nước sẽ tạo thêm nguồn vốn cho NSNN, vấn đề là việc sử dụng nguồn vốn vay sao cho đúng hướng, có chế độ quản lý hợp lý để có hiệu quả. Nếu không sử dụng tốt thì đây là khoản nợ lớn của ngân sách, càng làm cho ngân sách khó khăn bởi gánh nợ chỉ trả. Thông qua chỉ đầu tư của NSNN cho xây dựng kết cấu hạ tầng như xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, điện, nước, bưu điện. đã tạo được iên sản xuất kinh doanh.

u tư đề hình thành các doanh nghiệp then chốt, mũi nhọn có tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và vùng, lãnh t cuối cùng tác động đến tăng trưởng kinh tế và là một biện pháp dé chống độc. quyền, thực hiện các chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở miễn núi, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp công ích đã tạo. điều kiện hỗ trợ cho sự phát triển doanh nghiệp và góp phần điều chỉnh hoạt động kinh tế - xã hội giữa các vùng đảm bảo hợp lý hơn” [16]. - “Dam bảo công bằng xã hội: Vai trò quan trọng nhất của NSNN về mặt xã hội là từ nguồn thu huy động được, NSNN chỉ đầu tư và phân phối thong qua dự toán chỉ NSNN cho các ngành và mọi lĩnh vực xã hội, đảm bảo cho.

Nhà nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình. NSNN chỉ phối toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội từ tiêu dùng, thu nhập cho đến các vấn đề kinh tế, xã hội; quan hệ chỉ tiêu liên quan đến mọi lĩnh vực như chỉ cho hoạt động của bộ máy Nhà nước, an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, chỉ cho giáo dục, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ cho các đối tượng chính sách và chỉ cho nhiệm vụ xã hội khác. Những khoản 15 chỉ này của NSNN thường được gom thành hai nhóm; chỉ thường xuyên để duy trì bộ máy Nhà nước và chỉ phục vụ cho đầu tư phát triển. Quan hệ chỉ tiêu NSNN tỷ lệ tương quan giữa các nhóm, giữa các khoản mục chỉ tiêu, tốc độ tăng, giảm chỉ theo thứ tự ưu tiên cấp phát,.

không những chỉ phản ánh 'ó quan hệ kinh tế quan trọng mà còn có ý nghĩa giai cấp, dân tộc và các vất đề chính trị, xã hội. - On dinh giá cả thị trường và chống lạm phát. Bằng các công cụ thu và các chính sách chỉ ngân sách, Nhà nước có thể điều chỉnh giá cả thị trường một cách chủ động. Mối quan hệ giữa giá cả, thuế và dự trữ Nhà nước có ảnh hưởng sâu sắc tới tình hình thị trường.

Quản lý nhà nước về thị trường, Nhà nước tác động vĩ mô thông qua các chính sách đẻ định hướng, tạo hành lang cho thị trường hàng hóa phát triển mạnh và ổn định. Trong trường hợp thị trường có biến động mạnh về giá cả, để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng Nhà nước sử dụng nguồn dự trữ hàng hóa và tài chính để ôn định, điều hỏa quan hệ cung - cầu, bình ồn sản xuất kinh doanh. Nguồn dự trữ này hình thành từ kinh phí cấp phát của NSNN” [5]. Quản lý chỉ thường xuyên NSNN a.

Khái niệm “Chỉ thường xuyên là nhiệm vụ chỉ của ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các 16 chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước vẻ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an nink” [14]. “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống phương pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, tiếp cận đến mục tiêu cuối cùng phục vụ cho lợi ích của con người, quản lý là hoạt động có mục đích của chủ thể tuần theo những nguyên tắc nhất định và 16 là quá trình thực hiện đồng thời hàng loạt các chức nằng liên kết hữu cơ với nhau từ dự đoán, kế hoạch hoá, tô chức thực hiện, động phối hợp, điều chỉnh, hạch toán, kiểm tra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ