Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý chỉ thường xuyên NSNN cấp huyện Chương 2. Thực trạng công tác quản lý chỉ thường xuyên NSNN huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chỉ thường xuyên NSNN huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.
1I CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY CHI THUONG XUYEN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CÁP HUYỆN 1. MOT SO VAN DE VE CHI THUONG XUYEN NGAN SACH NHA NƯỚC 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của ngân sách nhà nước a. Khái niệm “Ngân sách nhà nước (ngôn ngữ kinh tế học gọi là chính sách tài khoá) là việc chính phủ sử dụng thuế khóa và chỉ tiêu công cộng để điều tiết mức.
chỉ tiêu chung của nền kinh tế” [14]. Theo Luật NSNN năm 2015. “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực. hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước bao gồm: Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chỉ phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chỉ ngân sách nhà nước bao gồm: Chỉ đầu tư phát triển; chỉ dự trữ quốc gia: chỉ thường xuyên; chỉ trả nợ lãi; chỉ viện trợ; các khoản chỉ khác theo quy định của pháp luật. Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa 12 phuong” [14]. Đặc điểm - Luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước và chứa đựng những lợi ich chung và công.
~ Là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, được chia thành nhiều quỹ. nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chỉ dùng cho những mục đích đã định. - “Luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước, được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước có thể sử dụng các công cụ sẵn có đề bắt buộc mỗi thành viên trong.
xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết. Song các chủ thể sản xuất - kinh doanh, các thành viên trong xã hội thì luôn đấu tranh đề bảo vệ lợi ích kinh tế của mình. Nghĩa là, Nhà nước không thẻ dựa vào quyền lực của mình để huy động sự đóng góp của xã hội dưới bắt kỳ hình thức nào, bằng. mọi giá phải có giới hạn hợp lý, đó chính là việc giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế Nhà nước và xã hội” [16] - “Là hoạt động phân phối lại các nguồn tải chính thông qua thu và chi 'NSNN.
Việc phân phối và phân phối lại các nguồn lực tài chính để hình thành nguồn thu của Nhà nước, dù thực hiện dưới hình thức nảo, thực chất cũng là quá trình giải quyết lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và xã hội. Phân phối nguồn lực tài chính là kết quả tài chính của các đơn vị kinh tế được chia thành hai phần, phần nộp cho NSNN và phần đe lại cho các thành viên của đơn vị. Thông qua phần nộp NSNN, Nhà nước tiếp tục phân phối lại qua các khoản cấp phát ngân sách cho mục đích tiêu dùng và đầu tư. Do vậy có thể thấy rằng, mối quan hệ kinh tế - xã hội của NSNN là quan hệ ở phạm vi rộng lớn liên quan đến mọi khu vực của nền kinh tế quốc dân” [13] 13 e Vai trò Vai trò của NSNN được xác định trên cơ sở các chức năng và nhiệm vụ cụ thế của nó trong từng giai đoạn.
Theo yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước thì vai trò NSNN cũng được thế hiện khác nhau tùy theo từng thời kỳ phát triển kinh tế và cơ chế quản lý tương ứng với từng thời kỳ đó. Vì vậy, vai trò của NSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính, là công cụ quan trọng đế Nhà nước thực hiện điều hành vĩ mô và toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội. Trong nền kinh tế thị trường vai trò của NSNN được. thay đổi và trở nên hết sức quan trọng.
Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc gia Ngân sách nhà nước có các vai trò như sau: - Huy động nguồn tài chính đế đảm bảo các nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước, đồng thời NSNN thực hiện cân đối giữa các khoản thu và các khoản chỉ (bằng tiền) của Nhà nước. Đây là vai trò lịch sử của NSNN mà bắt cứ cơ chế kinh tế nào, hình thái kinh tế - xã hội nào cũng phải thực hiện. - Điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội: Trong thời kỳ kinh tế thị trường thì sản xuất hàng hóa mang tính phổ biến và là nền kinh tế mà mọi quan hệ kinh tế - xã hội cơ bản được giải quyết thông qua thị trường. Tuy nhiên, kinh tế thị trường với mặt trái là những khuyết tật cần được khắc phục.
Chính vì vậy, sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường là tắt yếu khách quan. ~ Điều chỉnh cơ cầu kinh tế thông qua các hoạt động thu, chỉ: “Thông qua các sắc thuế, là công cụ của NSNN và là nguồn thu chủ yếu của NSNN, có tác dụng để khuyến khích, mở rộng sản xuất. Những mặt hàng. sản xuất trong nước, hàng xuất khẩu cần khuyến khích và tạo điều kiện cho.
cạnh tranh với hàng hóa trong khu vực và trên thế giới, nhất là hiện nay trong. điều kiện toàn cầu hóa, Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với những thời cơ và thách thức mới; cho nên cần phải có chính sách động viên NSNN hợp lý. chính vì thế, thông qua chính sách thuế, không chỉ 14 tập trung nguồn thu cho NSNN mà còn góp phần thực hiện vai trò định hướng. đầu tư, điều chỉnh cơ cấu n ¡nh tế phát triển theo hướng tích cực, kích thích hoặc hạn chế sản xuất nh doanh.
Ngoài công cụ thuế còn có khoản thu từ nguồn vay nợ trong nước và ngoài nước sẽ tạo thêm nguồn vốn cho NSNN, vấn đề là việc sử dụng nguồn vốn vay sao cho đúng hướng, có chế độ quản lý hợp lý để có hiệu quả. Nếu không sử dụng tốt thì đây là khoản nợ lớn của ngân sách, càng làm cho ngân sách khó khăn bởi gánh nợ chỉ trả. Thông qua chỉ đầu tư của NSNN cho xây dựng kết cấu hạ tầng như xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, điện, nước, bưu điện. đã tạo được iên sản xuất kinh doanh.
u tư đề hình thành các doanh nghiệp then chốt, mũi nhọn có tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và vùng, lãnh t cuối cùng tác động đến tăng trưởng kinh tế và là một biện pháp dé chống độc. quyền, thực hiện các chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở miễn núi, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp công ích đã tạo. điều kiện hỗ trợ cho sự phát triển doanh nghiệp và góp phần điều chỉnh hoạt động kinh tế - xã hội giữa các vùng đảm bảo hợp lý hơn” [16]. - “Dam bảo công bằng xã hội: Vai trò quan trọng nhất của NSNN về mặt xã hội là từ nguồn thu huy động được, NSNN chỉ đầu tư và phân phối thong qua dự toán chỉ NSNN cho các ngành và mọi lĩnh vực xã hội, đảm bảo cho.
Nhà nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình. NSNN chỉ phối toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội từ tiêu dùng, thu nhập cho đến các vấn đề kinh tế, xã hội; quan hệ chỉ tiêu liên quan đến mọi lĩnh vực như chỉ cho hoạt động của bộ máy Nhà nước, an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, chỉ cho giáo dục, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ cho các đối tượng chính sách và chỉ cho nhiệm vụ xã hội khác. Những khoản 15 chỉ này của NSNN thường được gom thành hai nhóm; chỉ thường xuyên để duy trì bộ máy Nhà nước và chỉ phục vụ cho đầu tư phát triển. Quan hệ chỉ tiêu NSNN tỷ lệ tương quan giữa các nhóm, giữa các khoản mục chỉ tiêu, tốc độ tăng, giảm chỉ theo thứ tự ưu tiên cấp phát,.
không những chỉ phản ánh 'ó quan hệ kinh tế quan trọng mà còn có ý nghĩa giai cấp, dân tộc và các vất đề chính trị, xã hội. - On dinh giá cả thị trường và chống lạm phát. Bằng các công cụ thu và các chính sách chỉ ngân sách, Nhà nước có thể điều chỉnh giá cả thị trường một cách chủ động. Mối quan hệ giữa giá cả, thuế và dự trữ Nhà nước có ảnh hưởng sâu sắc tới tình hình thị trường.
Quản lý nhà nước về thị trường, Nhà nước tác động vĩ mô thông qua các chính sách đẻ định hướng, tạo hành lang cho thị trường hàng hóa phát triển mạnh và ổn định. Trong trường hợp thị trường có biến động mạnh về giá cả, để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng Nhà nước sử dụng nguồn dự trữ hàng hóa và tài chính để ôn định, điều hỏa quan hệ cung - cầu, bình ồn sản xuất kinh doanh. Nguồn dự trữ này hình thành từ kinh phí cấp phát của NSNN” [5]. Quản lý chỉ thường xuyên NSNN a.
Khái niệm “Chỉ thường xuyên là nhiệm vụ chỉ của ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các 16 chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước vẻ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an nink” [14]. “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống phương pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, tiếp cận đến mục tiêu cuối cùng phục vụ cho lợi ích của con người, quản lý là hoạt động có mục đích của chủ thể tuần theo những nguyên tắc nhất định và 16 là quá trình thực hiện đồng thời hàng loạt các chức nằng liên kết hữu cơ với nhau từ dự đoán, kế hoạch hoá, tô chức thực hiện, động phối hợp, điều chỉnh, hạch toán, kiểm tra.