Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý chi ngân sách xã trên địa bàn huyện quảng ninh tỉnh quảng bình

Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế phân tích quản lý chi ngân sách xã tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2018

115
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và tính cấp thiết của đề tài

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào quản lý kinh tế, cụ thể là chi ngân sách xã tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ngân sách xã là công cụ tài chính quan trọng, đảm bảo nguồn lực vật chất cho chính quyền cấp xã thực hiện các chức năng quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, việc quản lý chi ngân sách xã tại huyện Quảng Ninh vẫn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi nghiên cứu sâu hơn để đề xuất giải pháp hoàn thiện.

1.1. Vai trò của ngân sách xã

Ngân sách xã đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ chính quyền cấp xã thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế địa phương. Nó góp phần tạo nguồn lực chung cho sự phát triển kinh tế đất nước, giúp Việt Nam bắt kịp với nhịp độ phát triển của các nước trong khu vực và thế giới.

1.2. Thực trạng quản lý chi ngân sách xã

Tại huyện Quảng Ninh, công tác quản lý chi ngân sách xã đã có những tiến bộ đáng kể, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế như việc thu chi không minh bạch, sử dụng ngân sách không đúng quy định. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi ngân sách xã

Chương này trình bày các khái niệm cơ bản về ngân sách xã, quản lý kinh tế, và phân bổ ngân sách. Nó cũng phân tích vai trò và đặc điểm của ngân sách xã trong bối cảnh kinh tế địa phươngphát triển kinh tế.

2.1. Khái niệm và đặc điểm ngân sách xã

Ngân sách xã là công cụ tài chính giúp chính quyền cấp xã thực hiện các chức năng quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội. Nó có đặc điểm là phạm vi hoạt động hẹp, nhưng tác động trực tiếp đến đời sống người dân.

2.2. Nội dung quản lý chi ngân sách xã

Quản lý chi ngân sách xã bao gồm các hoạt động lập dự toán, chấp hành, quyết toán, và giám sát chi ngân sách. Việc quản lý hiệu quả đòi hỏi sự minh bạch, công khai và tuân thủ các quy định pháp luật.

III. Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách xã tại huyện Quảng Ninh

Chương này phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách xã tại huyện Quảng Ninh giai đoạn 2014-2016. Nó đánh giá các hoạt động lập dự toán, chấp hành, quyết toán, và giám sát chi ngân sách, đồng thời chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân.

3.1. Lập dự toán chi ngân sách xã

Quá trình lập dự toán chi ngân sách xã tại huyện Quảng Ninh còn nhiều bất cập, chưa đảm bảo tính chính xác và minh bạch. Điều này dẫn đến việc phân bổ ngân sách không hiệu quả.

3.2. Chấp hành và quyết toán chi ngân sách xã

Việc chấp hành và quyết toán chi ngân sách xã còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc tuân thủ các quy định pháp luật và sử dụng ngân sách đúng mục đích.

IV. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách xã

Chương này đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách xã tại huyện Quảng Ninh. Các giải pháp tập trung vào việc nâng cao chất lượng lập dự toán, tăng cường giám sát, và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.

4.1. Hoàn thiện công tác lập dự toán

Cần nâng cao chất lượng lập dự toán chi ngân sách xã thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực và áp dụng các phương pháp dự toán hiện đại.

4.2. Tăng cường giám sát và kiểm tra

Việc tăng cường giám sát và kiểm tra chi ngân sách xã sẽ giúp đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong sử dụng ngân sách.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý chi ngân sách xã trên địa bàn huyện quảng ninh tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH XÃ 1.TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH XÃ 1.1 Xã và chức năng, nhiệm vụ của chính quyền xã Nhà nước xuất hiện là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội. Từ khi ra đời Nhà nước đã phải gánh vác trọng trách lớn là giữ vững biên cương, bờ cõi, ổn định đời sống cho nhân dân và phát triển kinh tế đất nước. Để thực hiện được những chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước phải có những phương tiện vật chất và phải thực hiện phân cấp quản lý. Lịch sử phát triển của xã hội cho thấy mọi Quốc gia đều phải tiến hành phân cấp để quản lý.

Mặc dù có sự khác nhau về nội dung phân cấp và số cấp quản lý, nhưng mỗi thể chế đều có cấp quản lý cơ sở[15]. Nằm trong quy luật đó, ở nước ta, sự phân cấp quản lý đã hình thành ngay từ Nhà nước phong kiến sơ khai đầu tiên: Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, Nhà nước Âu Lạc của Thục An Dương Vương. Vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, Nhà nước phong kiến sơ khai đạt đến sự hưng thịnh với nền văn minh lúa nước, đồng thau và đồ sắt với chính thể chuyên chế và hạ tầng là công xã nông thôn( khoảng 500 làng, xã). Đến buổi đầu kỷ nguyên tự chủ vào đầu thế kỷ thứ X, nhà cải cách Khúc Hạo đã chia cả nước thành những đơn vị hành chính gồm các cấp: Lộ, Phủ, Châu, và đơn vị hành chính cơ sở gọi là Giáp xã.

Đến các triều đại Triệu, Đinh, Lý, Trần….gọi là Hương xã. Tuy tên gọi mỗi một thời khác nhau, nhưng chức năng nhiệm vụ của cấp chính quyền cơ sở không thay đổi bao nhiêu, chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ: quản lý nhân khẩu, ruộng đất, thu tô, thu thuế,, giữ gìn phép nước trị an, chăm lo lợi ích công cộng đê điều, tưới tiêu, đường xã, cứu tế xã hội tóm lại là quản lý dân, thực thi pháp luật tại địa phương và tạo dựng cơ sở vật chất cho Nhà nước và xã hội. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, làng xã trở thành cơ sở, nơi nuôi dưỡng, phát triển lực lượng cho Cách mạng. Thời kỳ xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, nhận thức rõ vai trò quan trọng của làng, xã, Đảng và Nhà nước ta đã quy định rõ trong các văn bản pháp luật: việc quản lý các công việc Nhà nước ở cơ sở do HĐND và UBND xã đảm nhiệm.

HĐND xã là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, thành viên của HĐND là do nhân dân địa phương 5 bầu ra theo chế độ phổ thông đầu phiếu. UBND xã là cơ quan chấp hành của HĐND. Chủ tịch UBND là đại biểu HĐND. Các thành viên khác của UBND không nhất thiết phải là đại biểu HĐND.

Theo điều 110 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định 4 cấp hành chính của nước ta là: Trung ương, Tỉnh (Thành phố trực thuộc Trung ương), Huyện(và đơn vị hành chính tương đương như: thành phố trực thuộc tỉnh, quận, thị xã), Xã(và các đơn vị hành chính tương đương như: phường, thị trấn). Theo đó xã là đơn vị hành chính cơ sở của Nhà nước ở nông thôn. Chính quyền Nhà nước cấp xã bao gồm HĐND và UBND có chức năng quản lý mọi hoạt động kinh tế xã hội trên địa bàn trong thể chế thống nhất của Nhà nước với các nhiệm vụ sau: Thứ nhất,thực thi các công việc nội chính: Tổ chức, an ninh, quân sự, tư pháp, thanh tra… nhiệm vụ quan trọng nhất là đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trong dân, đảm bảo cho công dân thực hiện đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của Nhà nước. Phòng chống tệ nạn xã hội, quản lý hộ tịch hộ khẩu, thực hiện thanh tra nhân dân, phát hiện và xử lý theo quyền hạn được giao những hành vi vi phạm pháp luật, kiểm tra đôn đốc việc chấp hành các chính sách chế độ, thể lệ do Nhà nước quy định.

Thứ hai,phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất của người dân. Đó là việc quản lý đất đai và các tài nguyên thiên nhiên khác trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật, bằng quyền lực của chính quyền nhà nước để điều tiết, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, thông qua các quá trình xây dựng, tổng hợp, quyết định kế hoạch, kiểm tra, chỉ đạo đầu tư cơ sở hạ tầng, khai thác huy động và sử dụng nguồn lực tài chính trong dân cũng như các thế mạnh khác của địa phương. Thứ ba,thực hiện việc chăm lo phát triển giáo dục, y tế, văn hoá xã hội và đời sống tinh thần của người dân. Đó là trực tiếp xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các chương trình công tác văn xã, tổ chức và quản lý các hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao, truyền thanh, giáo dục y tế … nhằm cải thiện đời sống tinh thần của người dân.

Chăm lo sức khoẻ, bảo vệ chăm sóc trẻ em, kế hoạch hoá gia đình,quản lý lao động, tổ chức thực hiện di dân kinh tế mới theo định hướng chiến lược. Thứ tư,thực hiện quản lý tài chính, ngân sách xã: Tổ chức thi hành các chính sách thuế, phí, tài chính…quản lý xây dựng, điều hành thanh quyết toán ngân sách 6 xãtheo quy định, kiểm tra, giám sát các hoạt động tài vụ của hợp tác xã, đơn vị trực thuộc, tổ chức thực hiện chế độ kế toán, quản lý huy động sử dụng các loại quỹ theo quy định của pháp luật (Hiến Pháp nước Công Hòa Xã hội chủ ngĩa Việt Nam, năm 2013). Trong nền kinh tế thị trường dưới góc nhìn của kinh tế học công cộng,các nhiệm vụ của chính quyền cấp xã là đứng ra tổ chức cung cấp các hàng hoá dịch vụ công cộng mang tính chất trực tiếp cho dân chúng tại địa phương. Các hàng hoá dịch vụ công cộng đó là: Đảm bảo an ninh trật tự, giáo dục y tế văn hoá xã hội, giao thông công cộng, các dịch vụ hành chính, pháp lý… gắn liền với những người dân trên địa bàn xã[13].

Như vậy, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã được mở rộng đa dạng và phong phú hơn so với trước đây, liên quan hầu hết đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội của nhân dân trên địa bàn xã. Đó là cơ sở cho việc hình thành ngân sách xã và phương thức, quy trình quản lý ngân sách xã[13]. Khái niệm ngân sách xã Ngân sách xã là một cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, nó đại diện và đảm bảo tài chính cho chính quyền xã có thể chủ động khai thác những thế mạnh có sẵn để phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn xã[17]. Ngân sách xã là một bộ phận của tài chính công có liên quan đến các hoạt động chi tiêu của chính phủ vàcác nguồn thu để tài trợ cho chi tiêu của chính phủ.

Một trong mục tiêu quan trọng của phân tích chi tiêu của ngân sách là để hiểu tác động của chi tiêu của chính phủ, các quy định, chính sách thuế và vay mượn lên quá trình phát triển kinh tế - xã hội như tạo việc làm, đầu tư và chi tiêu. Nguyên tắc để quản lý chi ngân sách là đảm bảo vai trò điều tiết của chính phủ trongnền kinh tế và tác động của nó đối với việc sử dụng tài nguyên và bảo đảm phúc lợi của người dân[20]. Ngân sách xã trực tiếp gắn với người dân, trực tiếp giải quyết toàn bộ mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước với dân. Chính vì vậy, ngân sách xã là tiền đề đồng thời là hệ quả trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Trong điều lệ ngân sách xã ban hành tháng 04/1972 có ghi:"NSX là kế hoạch thu chi tài chính của chính quyền cấp xã, để đảm bảo điều kiện vật chất cho Hội đồng 7 nhân dân và Ủy ban hành chính xã làm tròn trách nhiệm, nhiệm vụ của mình: đảm bảo việc chấp hành pháp luật, giữ vững trật tự trị an, bảo vệ tài sản công cộng, bảo hộ quyền lợi hợp pháp của công dân; quản lý mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội trong xã, động viên và giám sát các hợp tác xã và công dân thi hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đối với Nhà nước". Thông tư số 344/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn xác định: “Ngân sách xã do Ủy ban nhân dân xã xây dựng và quản lý, Hội đồng nhân dân xã quyết định và giám sát.” Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần phải có một khái niệm về ngân sách xã đầy đủ, thống nhất làm cơ sở cho việc xác định các yêu cầu, nhiệm vụ của NSX sau này. Tổng kết lại, một khái niệm phản ánh bản chất và bao quát nhất về NSX là: NSX là toàn bộ các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp xã nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ đã được phân công, phân cấp quản lý. Như vậy ta có thể khẳng định rằng ngân sách cấp xã là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống ngân sách Nhà nước, được kết cấu chặt chẽ và chịu sự điều chỉnh vĩ mô của NSNN theo mục tiêu chung của quốc gia; kết hợp hài hòa giữa lợi ích chung và quyền lợi vật chất của từng xã, dựa trên cơ sở sử dụng nguồn tài chính tại chỗ có hiệu quả, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cấp xã hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Ngân sách cấp xã là nhân tố góp phần thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Đặc điểm, vai trò của ngân sách xã 1. Đặc điểm của Ngân sách xã Có thể khẳng định rằng ngân sách xã là một cấp trong hệ thống NSNN vì vậy ngân sách xã mang đầy đủ những đặc điểm chung của NSNN; mặt khác cấp xã là cấp chính quyền cơ sở vì vậy bên cạnh những đặc điểm chung của NSNN ngân sách cấp xã còn có những đặc điểm riêng tạo ra sự khác biệt căn bản so với các cấp ngân sách khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Quản Lý Kinh Tế: Chi Ngân Sách Xã Tại Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý ngân sách xã, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân bổ và sử dụng ngân sách tại địa phương. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình quản lý ngân sách mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc tối ưu hóa nguồn lực tài chính cho sự phát triển bền vững của huyện Quảng Ninh.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến tài chính và quản lý ngân sách, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn tốt nghiệp một số vấn đề cơ bản về vốn và kế toán huy động vốn tại chi nhánh nhnn ptnn quận tây hồ, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về huy động vốn trong ngân hàng, hay Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của agribank chi nhánh thành phố vinh, giúp bạn hiểu rõ hơn về tín dụng trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng tmcp việt nam thịnh vượng chi nhánh đà nẵng sẽ mang đến những giải pháp cụ thể cho hoạt động tài chính trong ngân hàng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực tài chính và quản lý ngân sách.