Luận văn thạc sĩ quản lý khu di tích lịch sử và danh thắng Vũng Đục - Bùi Xuân Hẹn, Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Khám phá quản lý khu di tích lịch sử Vũng Đức Cẩm Phả. Chiến lược bảo vệ di sản, phát triển du lịch bền vững và giữ gìn giá trị văn hóa lịch sử.

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

160
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan khu di tích lịch sử và danh thắng Vũng Đục

Khu di tích lịch sử và danh thắng Vũng Đục nằm trên địa bàn phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Đây là một trong những di tích quan trọng của vùng Đông Bắc Việt Nam, gắn liền với lịch sử khai thác than và truyền thống văn hóa địa phương. Khu di tích bao gồm hệ thống đền, chùa và các công trình tâm linh được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Địa điểm này sở hữu vị trí địa lý thuận lợi, tiếp giáp với vịnh Bái Tử Long, tạo nên cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ. Việc nghiên cứu quản lý khu di tích này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Xuân Hẹn (2018) đã phân tích toàn diện thực trạng quản lý di tích, đánh giá hiệu quả công tác bảo tồn và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý. Nghi cứu thuộc chuyên ngành Quản lý văn hóa, mã số 8319042, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.

1.1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành

Khu di tích Vũng Đục nằm ở ranh giới giữa thành phố Cẩm Phả và vịnh Bái Tử Long. Từ thành phố Hạ Long, du khách di chuyển khoảng 20km theo quốc lộ 18A hướng Đông Bắc để đến khu vực. Đường thủy từ bến tàu Hòn Gai qua vịnh Hạ Long đến Bái Tử Long khoảng 10 hải lý. Hệ thống thờ tự trong khu di tích bao gồm Đền Hạ được xây dựng từ thời Pháp thuộc, ban đầu là ngôi đền nhỏ do thương thuyền và ngư dân lập nên để thờ Thánh Mẫu, cầu mưa thuận gió hòa khi ra khơi. Qua thời gian, khu di tích được mở rộng và trở thành điểm đến tâm linh quan trọng của vùng.

1.2. Giá trị văn hóa và vai trò của khu di tích

Khu di tích Vũng Đục mang giá trị đa chiều về lịch sử, văn hóa và du lịch. Về mặt lịch sử, di tích ghi dấu quá trình khai thác than và phát triển công nghiệp của vùng Cẩm Phả. Giá trị văn hóa thể hiện qua hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu, phản ánh đời sống tâm linh của ngư dân và người lao động vùng biển. Khu di tích còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch địa phương, thu hút du khách tham quan và tìm hiểu lịch sử. Việc bảo tồn di tích góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc.

II. Phân tích thực trạng quản lý khu di tích Vũng Đục

Công tác quản lý khu di tích lịch sử và danh thắng Vũng Đục được thực hiện theo hệ thống văn bản pháp luật từ Trung ương đến địa phương. Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi bổ sung năm 2009 là cơ sở pháp lý quan trọng. Nghị định 98/2010/NĐ-CP và Nghị định 109/2017/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết về bảo vệ và quản lý di sản văn hóa. Bộ máy quản lý bao gồm cấp tỉnh và cấp thành phố Cẩm Phả, với Ban Quản lý di tích chịu trách nhiệm trực tiếp. Tuy nhiên, thực tế triển khai còn nhiều hạn chế về nguồn nhân lực, kinh phí và cơ sở vật chất. Công tác đào tạo cán bộ quản lý chưa được chú trọng đúng mức. Sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành còn thiếu chặt chẽ. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo tồn di tích đến cộng đồng chưa đạt hiệu quả cao. Công tác trùng tu, tôn tạo một số hạng mục còn chậm tiến độ.

2.1. Bộ máy quản lý và nguồn nhân lực

Bộ máy quản lý khu di tích Vũng Đục hoạt động theo mô hình hai cấp gồm cấp tỉnh và cấp thành phố. Tại cấp tỉnh, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về di tích. Tại cấp thành phố, Ban Quản lý di tích trực tiếp thực hiện các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị. Nguồn nhân lực còn thiếu về số lượng và hạn chế về chuyên môn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý chưa được thực hiện thường xuyên. Số lượng cán bộ văn hóa xã hội tại các phường, xã còn mỏng, khó đáp ứng yêu cầu quản lý chuyên sâu.

2.2. Các hoạt động quản lý và bảo tồn hiện tại

Các hoạt động quản lý khu di tích bao gồm tuyên truyền phổ biến pháp luật, trùng tu tôn tạo, đảm bảo an ninh trật tự và quản lý tài chính. Công tác trùng tu được thực hiện theo Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Tuy nhiên, nguồn kinh phí đầu tư còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu sửa chữa và nâng cấp. Công tác đảm bảo an ninh trật tự được tăng cường trong các dịp lễ hội. Việc xây dựng cảnh quan môi trường xung quanh di tích còn nhiều bất cập. Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình quản lý và bảo tồn chưa thực sự hiệu quả.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý khu di tích

Để nâng cao hiệu quả quản lý khu di tích lịch sử và danh thắng Vũng Đục, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan ban ngành từ tỉnh đến cơ sở. Thứ hai, tăng cường nguồn nhân lực thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý. Thứ ba, đa dạng hóa nguồn kinh phí đầu tư từ ngân sách nhà nước, xã hội hóa và nguồn thu từ hoạt động du lịch. Thứ tư, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và quảng bá di tích. Thứ năm, phát huy vai trò cộng đồng trong bảo tồn di sản. Thứ sáu, xây dựng quy hoạch tổng thể bảo tồn gắn với phát triển du lịch bền vững. Các giải pháp cần được thực hiện có lộ trình, phù hợp với điều kiện thực tế và quy định pháp luật hiện hành.

3.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý và đào tạo nhân lực

Giải pháp đầu tiên là hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp. Cần thành lập Ban Quản lý chuyên trách với đủ thẩm quyền và nguồn lực. Công tác đào tạo cần được thực hiện thường xuyên, bao gồm tập huấn về bảo vệ môi trường trong di tích do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức. Nâng cao năng lực cho cán bộ văn hóa xã hội tại các phường, xã. Xây dựng chế độ đãi ngộ phù hợp để thu hút nhân lực có trình độ chuyên môn.

3.2. Phát huy giá trị và phát triển du lịch bền vững

Giải pháp thứ hai tập trung vào việc phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch. Xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh, du lịch lịch sử. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giới thiệu giá trị di tích đến du khách trong và ngoài nước. Tổ chức các hoạt động lễ hội truyền thống để thu hút cộng đồng. Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ du lịch như bãi đỗ xe, nhà vệ sinh, hệ thống biển chỉ dẫn. Phát triển du lịch theo hướng bền vững, hài hòa giữa bảo tồn và khai thác, đảm bảo không làm ảnh hưởng đến giá trị nguyên gốc của di tích.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của luận văn

Luận văn thạc sĩ về quản lý khu di tích lịch sử và danh thắng Vũng Đục đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đề ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác quản lý di tích đạt được một số kết quả tích cực nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Ứng dụng thực tiễn của luận văn thể hiện ở việc cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Nghiên cứu cũng đóng góp vào kho tàng kiến thức về quản lý di sản văn hóa tại Việt Nam. Các khuyến nghị được đưa ra có thể áp dụng cho việc quản lý các di tích tương tự trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và các địa phương khác. Đây là công trình nghiên cứu độc lập, có giá trị học thuật và thực tiễn cao trong lĩnh vực quản lý văn hóa.

4.1. Đóng góp khoa học của luận văn

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử và danh thắng. Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng quản lý khu di tích Vũng Đục thông qua số liệu và tài liệu chính xác từ các cơ quan chức năng. Các giải pháp đề xuất dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, có tính khả thi cao. Luận văn là tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà quản lý, nghiên cứu sinh và những người quan tâm đến lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa tại Việt Nam.

4.2. Khuyến nghị cho công tác quản lý di tích

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra một số khuyến nghị quan trọng. Cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền địa phương trong công tác bảo tồn di tích. Đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực đầu tư cho di tích. Nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị và trách nhiệm bảo vệ di sản. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả quản lý định kỳ. Các khuyến nghị cần được cụ thể hóa thành kế hoạch hành động với lộ trình thực hiện rõ ràng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý khu di tích lịch sử và danh thắng vũng đục thành phố cẩm phả tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I, điều 4 Luật Di sản văn hóa năm 2001 đã nêu: "Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học" [23, tr. Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đưa ra một khái niệm khoa học về di tích lịch sử như sau: "Là 9 những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại" [32, tr. Loại hình di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh là: Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để lại có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học. Từ những căn cứ nêu trên, cho thấy: Di tích lịch sử - văn hoá có thể tồn tại ở nhiều dạng vật chất có giá trị ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu, có những di tích gắn với các công trình vừa mang giá trị kiến trúc vừa chứa đựng những giá trị văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần biểu trưng cho địa phương hay cả quốc gia, dân tộc đó.

Danh thắng Danh thắng, hiểu theo Luật di sản văn hóa năm 2001, "là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học" [23, tr. Như vậy, Danh thắng là sự kiến tạo tự nhiên hoặc sự kết hợp giữa tự nhiên và thành quả lao động sáng tạo của con người. Theo Điều 29, Luật Di sản văn hóa năm 2001 thì Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được thống nhất chung một thuật ngữ là Di tích. Từ nhận thức trên, ta có thể đưa ra khái niệm về di tích lịch sử- văn hóa, danh thắng (DTLSVHDT) như sau: DTLSVHDT là một không gian vật chất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể; nó không những là sự kết tinh giữa cảnh quan thiên nhiên và những giá trị lao động do con người trong lịch sử sáng tạo ra mà còn chứa đựng những giá trị điển hình về lịch sử, văn hoá, khoa học.

Thông qua khái niệm và luận điểm trên ta có thể nhận thấy, DTLSVHDT là một không gian vật chất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể như các công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó kết hợp với cảnh quan thiên nhiên hoặc địa 10 điểm ghi dấu hoạt động của con người nằm trong khu vực cảnh quan thiên nhiên đó. DTLSVHDT tồn tại cụ thể trong một không gian và thời gian; các DTLSVHDT có quy mô, phân bố, kiến trúc. DTLSVHDT bao gồm những bộ phận cấu thành gồm môi trường, cảnh quan thiên nhiên; những công trình, địa điểm có liên quan tới các sự kiện lịch sử; hoặc nhân vật lịch sử, địa danh lịch sử, danh nhân văn hóa và những giá trị văn hóa tinh thần, hay còn gọi là văn hóa phi vật thể gắn với công trình, địa điểm đó. DTLSVHDT không chỉ kết tinh những giá trị lao động xã hội của con người trong lịch sử sáng tạo ra mà còn kết tinh những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoa học.

Tiêu chí để trở thành di tích lịch sử - văn hóa, danh thắng * Di tích lịch sử - văn hóa Chương IV, mục 1, điều 28 của Luật Di sản văn hóa năm 2001 quy định DTLSVH phải có một trong các tiêu chí sau đây: 1) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; 2) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; 3) Công trình xây dựng, địa điểm gắn sự kiện lịch sử tiêu biểu của của các thời kỳ cánh mạng, kháng chiến; 4) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; 5) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc các công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử [23, tr. * Danh thắng Tiêu chí về danh thắng cũng được nêu rõ trong chương IV, mục 1, điều 28, Luật Di sản văn hóa năm 2001, cụ thể như sau: 11 1) Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu; 2) Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất [23, tr. Như vậy, trong Luật Di sản văn hóa đã quy định rất rõ về các tiêu chí để được công nhận là di tích và danh thắng, thuận lợi cho các địa phương, đơn vị tiến hành kiểm duyệt, công nhận. Quản lý di tích lịch sử - văn hóa, danh thắng 1.

Quản lý và quản lý nhà nước Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Các Mác quan niệm: Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó.

Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng [4, tr. Từ quan niệm trên của Các Mác, cho thấy: quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây Các Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý. 12 Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN [13, tr.

Từ căn cứ nêu trên có thể nhận định, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của Nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. Quản lý di tích lịch sử - văn hóa, danh thắng Từ những khái niệm về quản lý và quản lý nhà nước, có thể khái niệm về quản lý nhà nước đối với DTLSVHDT như sau: Quản lý nhà nước về DTLSVHDT là quá trình điều hành, tác động một cách có định hướng của Nhà nước thông qua hệ thống văn bản pháp luật và bộ máy quản lý nhằm bảo vệ, giữ gìn DTLSVHDT, làm cho các giá trị của DTLSVHDT được phát huy theo hướng tích cực và ngày càng có sức sống mãnh liệt trong đời sống xã hội. Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001, di tích được phân loại như sau; - Loại hình di tích lịch sử.

- Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật. - Loại hình di tích khảo cổ học. - Loại hình di tích danh lam thắng cảnh. Theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích được chia thành 3 loại: - Di tích quốc gia đặc biệt.

- Di tích quốc gia. 13 - Di tích cấp tỉnh. + Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ VHTT&DL, Thủ tướng chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghị tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.

+ Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia. + Di tích cấp tỉnh là di tích của địa phương. Địa phương lập hồ sơ trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở VHTT&DL, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh [23, tr.

Quản lý di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh là sự định hướng, tạo điều kiện đối với việc bảo vệ, gìn giữ các DTLSVHDT, làm cho giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực. DTLSVHDT là bộ phận quan trọng cấu thành DSVH. Chính vì vậy, nội dung quản lý về DTLSVH cũng chính là nội dung quản lý về DSVH. Tại chương V, Điều 54 của Luật Di sản văn hóa năm 2001 đã nêu về nội dung quản lý DSVH gồm: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa. 14 - Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa. - Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; - Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; - Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ