Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ĐN HT trường THPT theo chuẩn hiệu trưởng Chương 2: Thực trạng quản lý ĐN HT các trường THPT tỉnh Bến Tre theo chuẩn hiệu trưởng. Chương 3: Một số biện pháp quản lý ĐNHT các trường THPT tỉnh Bến Tre theo chuẩn hiệu trưởng. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO CHUẨN HIỆU TRƢỞNG 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý và quản lý giáo dục 1.Quản lý Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. - Quản lý: Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định [28, tr. - Quản lý: Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [28, tr.Marx: “ Quản lý là lao động điều khiển lao động” [23, tr. 350] Theo Frederich Winslow Taylor ( 1956-1915)- nhà QL nổi tiếng đầu thế kỉ XX, cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [17] Theo nhóm tác giả Mĩ (H.Koontz, Cyrilonnell và HlinZweihrich) quan niệm “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định” [17] Theo tác giả Vũ Dũng và Nguyễn Thị Mai Lan cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [12, tr.
Theo tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những hoạch định của chủ thể quả lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [18, tr. Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý để thực hiện những hoạt động kết hợp những con người, người trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung, hay nói cách khác quản lý là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân để thực hiện các mục tiêu chung. 9 Quản lý là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức, nhóm để đạt mục tiêu. Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Theo Phan Văn Kha xác định: “Quản lý là tập hợp các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỉ thuật và công nghệ để chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được các mục tiêu đã định” [17] Gần đây nhất theo Nguyễn Lộc (2010) “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có để đạt những mục tiêu của tổ chức” [22] Khái quát ý kiến của nhiều tác giả khác nhau, có thể xác định: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống dựa trên những cơ sở khoa học và xu hướng phát triển khách quan của xã hội, của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm chuyển đối tượng quản lý từ trạng thái này sang trạng thái khác theo mong muốn của nhà quản lý. a HỆ QUẢN LÝ HỆ BỊ QUẢN LÝ ( Chủ thể) ( Khách thể, đối tượng) b a) Thông tin thuận b Thông tin ngược bên ngoài b’ b’ Thông tin ngược bên trong Sơ đồ 1.1: Mối liên hệ thông tin trong quản lý [29] Chức năng quản lý Quản lý có 4 chức năng cơ bản: - Chức năng lập kế hoạch là rất quan trọng, cơ bản nhất trong số các bước nhằm xác định khối lượng công việc, lựa chọn mục tiêu, khái quát các công việc phải làm, đặt ra quy định, xây dựng biện pháp, chọn cách thức để tổ chức đạt đến mục tiêu đã chọn. Nói một cách khác, lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề, những 10 ý tưởng của chủ thể quản lý để đạt được mục đích và đi đến mục tiêu. - Chức năng tổ chức là bước xây dựng những quy chế đặt ra những mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức, giữa các bộ phận trong tổ chức.
Xác định có tính định tính và định lượng chức năng nhiệm vụ giữa các thành viên, giữa các bộ phận để thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến các khâu, các mắt xích trong tổ chức và đối tượng quản lý để đạt hiệu quả cao nhất. - Chức năng chỉ đạo thực hiện là công việc thường xuyên của người quản lý, phải đặt tất cả mọi hoạt động của bộ máy trong tầm quan sát và xử lý, ứng xử kịp thời đảm bảo cho người bị quản lý luôn phát huy tính tự giác và tính kỷ luật. - Chức năng kiểm tra đánh giá là nhiệm vụ quan trọng của người quản lý. Trong công tác lãnh đạo, quản lý và chỉ huy, Bác Hồ đã từng nói: “Không có kiểm tra đánh giá coi như không có lãnh đạo”.
Qua đó đủ thấy vai trò kiểm tra đánh giá, rút ra bài học điều chỉnh mọi hoạt động của khách thể quản lý là việc làm không thể thiếu được của chủ thể quản lý. Tóm lại, cho dù tiếp cận nào thì quản lý cũng có 4 chức năng cơ bản: Chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo thực hiện và chức năng kiểm tra đánh giá. Mối quan hệ giữa chức năng quản lý và vai trò thông tin trong chu trình quản lý bằng sơ đồ như sau: Kế hoạch Chỉ đạo Thông tin quyết định quản lý Tổ chức Đánh giá Sơ đồ 1.2 : Mối quan hệ của các chức năng trong chu trình quản lý. Quản lý giáo dục Thuật ngữ “ Quản lý giáo dục” có nhiều quan niệm khác nhau và có hai cấp độ chủ yếu được đề cập: cấp vĩ mô và cấp vi mô.
11 Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội. Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đối với cấp vi mô, trong phạm vi nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại, như quản lý các hoạt động giáo dục: hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp), hoạt động xã hội,hoạt động văn thể, hoạt động lao động, hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục hướng nghiệp,v.v Đối với cấp vi mô. Được hiểu là quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường bao gồm hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến các hoạt động giáo dục, đến con người (GV, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin,v.v), đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường một các hợp quy luật ( quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội,v.v) nhằm đạt mục tiêu giáo dục.
Đội ngũ hiệu trưởng trường Trung học phổ thông 1. Đội ngũ: là số đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp (ĐN biên tập nhiều kinh nghiệm, ĐN giảng viên được đào tạo bài bản chuyên sâu) [ 28, tr. Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Trường THPT là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, nó sau trung học cơ sở, cấp học này kéo dài 3 năm, từ lớp 10 đến 12. Độ tuổi thường từ 15 đến 18.
Trường THPT thường được bố trí tại trung tâm huyện, thành phố. Với mục tiêu giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, 12 thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh chuẩn bị học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiệu trưởng là người đứng đầu một đơn vị trường học [28, tr. - Điều 54 Luật Giáo dục Việt Nam ngày 14 tháng 6 năm 2005 nêu: Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận.
Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học. Tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng; thủ tục bổ nhiệm, công nhận hiệu trưởng trường đại học do Thủ tướng Chính phủ quy định; đối với các trường ở các cấp học khác do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định; đối với cơ sở dạy nghề do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề quy định. Hiệu trưởng trường THPT là người đứng đầu một đơn vị trường THPT phải đạt trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục đối với cấp học, đạt trình độ chuẩn được đào tạo ở cấp học cao nhất đối vi trường phổ thông có nhiều cấp học và đã dạy học ít nhất 5 năm (hoặc 4 năm đối với miền núi, hải đảo, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) ở cấp học đó, đạt tiêu chuẩn quy định tại chuẩn hiệu trưởng trường THPT và được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc bổ nhiệm. Đội ngũ hiệu trưởng Trung học phổ thông là tập hợp những người đứng đầu một đơn vị trường THPT đạt trình độ đào tạo, lý luận chính trị theo quy định được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm.
Chuẩn hiệu trưởng trường Trung học phổ thông 1.