phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, luận văn có 3 chương như sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ giảng viên trong các trƣờng đại học Chƣơng 2. Thực trạng xây dựng đội ngũ giảng viên Trƣờng Đại học Nội vụ Hà Nội Chƣơng 3. Định hƣớng, nguyên tắc và giải pháp xây dựng đội ngũ giảng viên Trƣờng Đại học Nội vụ Hà Nội.
10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Giảng viên và đội ngũ giảng viên trường đại học 1.Giảng viên- Nhà giáo Có nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau về giảng viên, theo Luật Giáo dục năm 2005, chương IV, mục 1, điều 70 qui định: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong trường, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên (GV)”[32,tr3].
Luật Giáo dục đại học năm 2012, chương VIII, điều 54: “Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ” [33,tr3]. Theo Quyết định số 538/TCCP-TC ngày 19/12/1995 của Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ thì giảng viên trong các trường đại học và cao đẳng được phân ra ba ngạch: giảng viên (15.111), giảng viên chính (15.110)và giảng viên cao cấp (15. Theo từ điển tiếng việt: “giảng viên là tên gọi chung của người làm công tác giảng dạy ở các trường chuyên nghiệp, các lớp đào tạo, huấn luyện, các trường trên bậc phổ thông” [43]. Từ những quan niệm trên, trong phạm vi luận văn này, khái niệm giảng viên được hiểu theo nghĩa như sau: Giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở các trường cao đẳng và đại học.Giảng viên là những người có đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; thân nhân rõ ràng, có phẩm chất đạo đức tốt; có đủ điều kiện tham gia giảng dạy; có thể được trường đại học mời giảng dạy hoặc ký hợp đồng giảng dạy.
11 Giảng viên đại học là viên chức chuyên môn đảm nhận trực tiếp việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng và sau đại học nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng nhu cầu của xã hội. Giảng viên cũng chính là lực lượng chủ yếu quyết định đến việc thực hiện chiến lược và mục tiêu đào tạo của trường đại học. Chính vì vậy mà giảng viên đại học yêu cầu phải có kiến thức khoa học hàn lâm và khả năng sáng tạo cao. Để đáp ứng được những yêu cầu như vậy người giảng viên phải là nhà giáo, nhà khoa học và là nhà tư vấn, cung ứng dịch vụ cho xã hội (Giảng viên = Nhà giáo + Nhà khoa học + Nhà tư vấn, cung ứng dịch vụ).
Giảng viên là một nhà giáo: đây là vai trò truyền thống, quan trọng và tiên quyết đối với một người giảng viên. Một người giảng viên giỏi trước hết phải là một người thầy giỏi, phải thực sự là một “chuyên gia” có kiến thức uyên bác về chuyên ngành mình giảng dạy. Theo các nhà giáo dục thế giới thì người giảng viên toàn diện là người được trang bị 4 nhóm kiến thức, kỹ năng sau: + Kiến thức chuyên ngành: Là khối lượng kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành và môn học mà mình giảng dạy. + Kiến thức về chương trình đào tạo: Mỗi một giảng viên được đào tạo kiến thức chuyên ngành nhất định.
Nhưng để đảm bảo tính liên thông, gắn kết giữa các môn học thì giảng viên phải được trang bị (hoặc tự trang bị) các kiến thức về chương trình đào tạo. Kiến thức về chương trình đào tạo sẽ cung cấp thông tin về vai trò và sự tương tác giữa một chuyên ngành với các chuyên ngành khác trong cùng một lĩnh vực, giữa các chuyên ngành trong các lĩnh vực khác nhau. + Kiến thức và kỹ năng về giảng dạy: Bao gồm khối kiến thức về phương pháp luận, kỹ thuật dạy và học nói chung, dạy và học trong từng chuyên ngành cụ thể. Hiện nay rất nhiều trường đại học quan tâm và coi trọng nhóm kiến thức, kỹ năng này, bởi vì nó là yếu tố góp phần thay đổi diện mạo chất lượng dạy và học hiện nay ở các trường đại học.
+ Kiến thức về môi trường giáo dục, hệ thống giáo dục, mục tiêu giáo dục, giá trị giáo dục … Đây có thể coi là khối kiến thức cơ bản nhất làm nền tảng cho các hoạt động dạy và học. Chỉ khi mỗi giảng viên hiểu rõ được các sứ mệnh, giá trị cốt 12 lõi và các mục tiêu chính của nhà trường, môi trường giáo dục thì việc giảng dạy mới đi đúng định hướng và có ý nghĩa xã hội. Mặt khác kiến thức về hệ thống giáo dục, sứ mệnh và các mục tiêu giáo dục còn là kim chỉ nam cho giảng viên trong soạn bài giảng, lựa chọn phương pháp giảng dạy cho những đối tượng người học khác nhau. Thực tế, giảng viên đại học không trực tiếp dạy đạo đức nhưng phải xác lập được cho sinh viên nhận thức đúng đắn về các giá trị gốc của giáo dục và đạo đức, mà cụ thể là đạo đức trong từng nghề nghiệp cụ thể.
- Giảng viên là nhà khoa học: Ở vai trò thứ hai này, giảng viên thực hiện vai trò nhà khoa học với chức năng giải thích và dự báo các vấn đề của tự nhiên và xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải. Nghiên cứu khoa học, tìm cách ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về thực tiễn đời sống và công bố các kết quả nghiên cứu cho cộng đồng (cộng đồng khoa học, xã hội nói chung, trong nước và quốc tế) là ba chức năng chính của một nhà khoa học. Từ đây có hai xu hướng nghiên cứu chính: nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Khác với nghiên cứu cơ bản mang tính giải thích và dự báo các vấn đề chưa khai phá của tự nhiên và xã hội, nghiên cứu ứng dụng là loại nghiên cứu hướng đến việc ứng dụng các kết quả của nghiên cứu cơ bản vào giải quyết các vấn đề cụ thể của xã hội.
Thông thường, nghiên cứu cơ bản được coi là vai trò chính của các giảng viên đại học. Còn nghiên cứu ứng dụng mang tính công nghệ thường là kết quả của mối liên kết giữa các nhà khoa học và nhà ứng dụng (các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội). Do vậy, nghiên cứu ứng dụng thường có màu sắc của các dự án tư vấn được đặt hàng bởi cộng đồng doanh nghiệp (và do doanh nghiệp tài trợ). Trong bối cảnh hiện nay, khi chưa có nhiều điều kiện đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, chúng ta cần có chiến lược tận dụng kết quả nghiên cứu cơ bản của các quốc gia tiên tiến.
Do vậy, có thể trong giai đoạn hiện nay, chúng ta nên khuyến khích các giảng viên đại học thực hiện các nghiên cứu mang tính tổng kết lý thuyết và tìm ra những hướng ứng dụng của các lý thuyết này. Thực tế tổng kết lý thuyết là công việc đầu tiên và hết sức quan trọng của mỗi nhà nghiên cứu, nó mang 13 lại những kiến thức hết sức quan trọng về thành tựu khoa học trong từng chuyên ngành và các định hướng nghiên cứu của từng ngành. Nghiên cứu khoa học phải đi kèm với công bố kết quả nghiên cứu. Điều này có hai ý nghĩa.
Thứ nhất, công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành uy tín chính là thước đo chất lượng có ý nghĩa nhất đối với một công trình nghiên cứu. Thứ hai, chỉ khi được công bố rộng rãi và đi vào ứng dụng nghiên cứu khoa học mới hoàn thành sứ mệnh xã hội của mình. Và như vậy trong vai trò nhà khoa học, giảng viên đại học không chỉ phải nắm vững kiến thức chuyên môn, phương pháp nghiên cứu mà còn phải có kỹ năng viết báo khoa học. - Giảng viên – nhà cung ứng dịch vụ giáo dục cho xã hội: Đây là một vai trò mà rất nhiều giảng viên đại học Việt Nam đang thực hiện - nó cũng là một vai trò mà xã hội đánh giá cao và kỳ vọng ở các giảng viên.
Ở vai trò này, giảng viên cung ứng các dịch vụ của mình cho nhà trường, cho sinh viên, cho các tổ chức xã hội – đoàn thể, cho cộng đồng và cho xã hội nói chung. Cụ thể đối với nhà trường và sinh viên, một giảng viên cần thực hiện các dịch vụ như tham gia công tác quản lý, các công việc hành chính, tham gia các tổ chức xã hội, cố vấn cho sinh viên, liên hệ thực tập, tìm chỗ làm cho sinh viên… Với ngành của mình, giảng viên làm phản biện cho các tạp chí khoa học, tham dự và tổ chức các hội thảo khoa học. Đối với cộng đồng, giảng viên trong vai trò của một chuyên gia cũng thực hiện các dịch vụ như tư vấn, cung cấp thông tin, viết báo. Trong chức năng này, giảng viên đóng vai trò là cầu nối giữa khoa học và xã hội, để đưa nhanh các kiến thức khoa học vào đời sống cộng đồng.
Viết báo thời sự (khác với báo khoa học) là một chức năng khá quan trọng và có ý nghĩa lớn trong việc truyền bá kiến thức khoa học và nâng cao dân trí. Mô hình ba chức năng trong một, đòi hỏi người giảng viên không ngừng hoàn thiện bản thân mình trước nhu cầu xã hội hóa, toàn cầu hóa nhất là ngành giáo dục phải là một trong những ngành tiên phong, đi đầu về hội nhập và cập nhật tri thức.