Tổng quan nghiên cứu

Dân tộc Thái tại Việt Nam là một trong những cộng đồng thiểu số có bề dày lịch sử và di sản phong phú, chiếm khoảng 1,74% dân số cả nước. Riêng tại tỉnh Nghệ An, cộng đồng người Thái có quy mô dân số đạt 295.132 người, chiếm 10,1% tổng dân số toàn tỉnh và chiếm tới 72,09% tổng số cư dân các dân tộc thiểu số trên địa bàn. Địa bàn cư trú của người Thái tập trung chủ yếu tại các huyện miền núi Tây Bắc Nghệ An, tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc với ba nhóm chính gồm Tày Mường, Tày Thanh và Tày Mười.

Dưới tác động mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, các giá trị văn hóa truyền thống của người Thái đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Tình trạng mai một tiếng nói, chữ viết, trang phục, phong tục tập quán cùng sự xuất hiện của các yếu tố văn hóa lai căng đang diễn ra tại nhiều bản làng vùng cao. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ phát triển thời gian qua chủ yếu tập trung vào khía cạnh cứu trợ kinh tế mà chưa khơi dậy được sức mạnh văn hóa tự thân của cộng đồng bản địa.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là phân tích toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020. Trên cơ sở đó, luận văn xác định các nguyên nhân, rào cản và đề xuất hệ thống giải pháp quản lý công đồng bộ nhằm giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong giai đoạn mới. Việc hoàn thiện cơ chế quản lý không chỉ bảo tồn nguyên vẹn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể mà còn hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống kinh tế cho hơn 29 vạn đồng bào Thái thông qua phát triển du lịch văn hóa bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa phải được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội và giữ vai trò soi đường cho quốc dân đi. Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý công hiện đại kết hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hệ thống lý thuyết của đề tài xoay quanh các khái niệm trung tâm:

  • Văn hóa: Toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và nâng cao chất lượng cuộc sống.
  • Dân tộc thiểu số: Các cộng đồng tộc người có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Văn hóa dân tộc thiểu số: Hệ thống các giá trị vật thể như cấu trúc thôn bản, nhà sàn, trang phục thổ cẩm và phi vật thể như tiếng nói, chữ viết, dân ca, dân vũ, lễ hội mang tính đặc thù tộc người.
  • Quản lý nhà nước về văn hóa: Sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy hành chính theo Nghị định 79/2017/NĐ-CP nhằm phát triển văn hóa và điều chỉnh hành vi của các chủ thể xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khai thác nguồn dữ liệu đa tầng, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương, các chương trình hành động của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 - 2020 cùng số liệu thống kê dân số từ Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê tỉnh Nghệ An. Tác giả kết hợp linh hoạt các phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch và so sánh thực chứng để làm rõ bức tranh quản lý công.

Về phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 30 chuyên gia dân tộc học, nhà quản lý văn hóa và cán bộ công chức văn hóa - xã hội cấp xã tại 4 huyện miền núi trọng điểm: Quế Phong, Quỳ Châu, Tương Dương và Kỳ Sơn. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả là nhằm tiếp cận sâu sắc các khía cạnh đặc thù về phong tục, rào cản hành chính và tâm lý cộng đồng bản địa mà các mô hình định lượng đơn thuần khó bao quát hết. Toàn bộ quá trình thu thập, xử lý dữ liệu và phỏng vấn chuyên gia được tiến hành chặt chẽ trong khung thời gian từ năm 2018 đến đầu năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô cộng đồng người Thái tại Nghệ An đạt 295.132 người, chiếm tới 72,09% dân số dân tộc thiểu số toàn tỉnh và chiếm 24,4% tổng số người Thái trên toàn quốc. Tuy nhiên, sự biến đổi không gian cư trú và dịch chuyển lao động đã khiến khoảng 35% thanh niên trong độ tuổi 18 đến 30 rời địa phương đi làm ăn xa, dẫn tới tình trạng mai một ngôn ngữ và trang phục truyền thống trong sinh hoạt hàng ngày.

Thứ hai, công tác thể chế hóa chính sách văn hóa đã đạt được nhiều kết quả quan trọng thông qua việc triển khai Quyết định 84/2006/QĐ-UBND, Kế hoạch 150/KH-UBDT và Đề án theo Quyết định 1163/QĐ-TTg. Dẫu vậy, việc bố trí nguồn lực ngân sách thực tế cho các chương trình bảo tồn văn hóa Thái tại cấp huyện chỉ đạt khoảng 15% đến 20% so với dự toán nhu cầu, khiến nhiều thiết chế văn hóa cơ sở rơi vào tình trạng thiếu thốn và xuống cấp.

Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hóa còn mỏng và thiếu tính chủ động. Trong khi toàn ngành văn hóa cả nước tổ chức 145 cuộc thanh tra và 20 đoàn kiểm tra lễ hội, thì tại các huyện miền núi Nghệ An, tần suất thanh tra văn hóa định kỳ chỉ đạt dưới 2 cuộc mỗi năm tại mỗi địa bàn, chưa kịp thời ngăn chặn các biến tướng mê tín dị đoan và thương mại hóa lễ hội.

Thứ tư, nguồn lực xã hội hóa cho văn hóa dân tộc Thái còn rất khiêm tốn, chỉ chiếm dưới 10% tổng kinh phí hoạt động, phần lớn các hoạt động bảo tồn vẫn phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước mang tính bao cấp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của những hạn chế trên xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận cán bộ khi chỉ xem vùng miền núi là đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội đơn thuần, chưa nhìn nhận văn hóa bản địa như một nguồn lực phát triển kinh tế bền vững. Tư duy quản lý văn hóa còn mang tính hành chính hóa, thụ động và thiếu các công cụ kiểm soát hiệu quả.

So sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại một số địa phương lân cận, mô hình du lịch cộng đồng tại Bản Lác thuộc huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình với 8 đội văn nghệ gồm 120 thành viên hoạt động tự chủ, hay chính sách phục dựng lễ hội của thành phố Điện Biên Phủ theo Nghị quyết 37/NQ-HĐND đã chứng minh hiệu quả vượt trội của việc gắn bảo tồn di sản với sinh kế của người dân. Các số liệu này khẳng định Nghệ An cần chuyển đổi mô hình từ bảo tồn tĩnh sang bảo tồn động gắn với kinh tế du lịch. Để làm rõ hơn mối tương quan này, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ so sánh cơ cấu phân bổ ngân sách văn hóa giữa các huyện miền núi và bảng đối sánh các chỉ số tiếp cận thiết chế văn hóa của đồng bào Thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2021 - 2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống chính sách và văn bản quy phạm pháp luật địa phương. UBND tỉnh Nghệ An phối hợp cùng Sở Văn hóa và Thể thao rà soát, bổ sung các quy định cụ thể về bảo tồn chữ Thái cổ, nghệ thuật khắp nhuôn và kiến trúc nhà sàn truyền thống. Mục tiêu đặt ra là hoàn thành 100% việc chuẩn hóa quy chế bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn toàn tỉnh trước năm 2023.

Thứ hai, kiện toàn và nâng cao chất lượng bộ máy quản lý công. Sở Nội vụ và Sở Văn hóa và Thể thao cần tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn cho 100% công chức phụ trách văn hóa - xã hội cấp xã tại các huyện miền núi. Đảm bảo đến năm 2024 có ít nhất 80% cán bộ văn hóa cơ sở sử dụng thành thạo tiếng nói và am hiểu sâu sắc phong tục tập quán của người Thái.

Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa và phát triển du lịch văn hóa cộng đồng gắn với bảo tồn di sản. UBND các huyện Quỳ Châu, Quế Phong, Con Cuông cần chủ động liên kết với các doanh nghiệp lữ hành để xây dựng từ 5 đến 10 mô hình bản du lịch cộng đồng homestay kiểu mẫu, phấn đấu nâng tỷ lệ đóng góp của du lịch văn hóa lên mức 25% đến 30% trong cơ cấu kinh tế dịch vụ địa phương vào năm 2025.

Thứ tư, tăng cường hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Thanh tra ngành văn hóa chủ trì phối hợp với các lực lượng liên ngành thực hiện định kỳ tối thiểu 5 đến 7 cuộc thanh tra chuyên đề mỗi năm tại các khu vực lễ hội, di tích và cơ sở dịch vụ văn hóa, nhằm loại bỏ triệt để các hành vi lợi dụng bản sắc văn hóa để trục lợi hoặc truyền bá mê tín dị đoan.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao dành cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý công: Lãnh đạo và chuyên viên tại Sở Văn hóa và Thể thao, Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An cùng UBND các huyện miền núi. Nghiên cứu cung cấp luận cứ thực chứng để tham mưu, xây dựng đề án bảo tồn văn hóa và hoạch định chính sách dân tộc phù hợp với hơn 295.000 đồng bào Thái.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Những người đang nghiên cứu chuyên ngành Quản lý công, Hành chính công, Dân tộc học và Văn hóa học. Tài liệu này cung cấp phương pháp tiếp cận liên ngành giữa khoa học quản lý và văn hóa tộc người, đồng thời là nguồn dữ liệu sơ cấp chuẩn xác về thực trạng văn hóa miền Tây Nghệ An.

Thứ ba, các doanh nghiệp lữ hành và tổ chức phát triển du lịch: Các đơn vị kinh doanh du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và văn hóa. Luận văn gợi mở các sản phẩm du lịch bản địa độc đáo, giúp doanh nghiệp xây dựng tour trải nghiệm văn hóa Thái chuẩn mực và tôn trọng bản sắc địa phương.

Thứ tư, cán bộ lãnh đạo và công chức văn hóa cấp cơ sở: Bí thư, Chủ tịch UBND và công chức văn hóa - xã hội tại các xã vùng cao. Đây là cẩm nang nghiệp vụ hữu ích giúp giải quyết xung đột giữa bảo tồn di sản và áp lực phát triển kinh tế thị trường tại thôn bản.

Câu hỏi thường gặp

Vấn đề cốt lõi mà luận văn tập trung giải quyết là gì? Luận văn giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của 295.132 người Thái ở Nghệ An với áp lực lai căng văn hóa trong thời kỳ hội nhập. Đề tài làm rõ những bất cập trong quản lý công và cung cấp hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản trị nhà nước đối với di sản tộc người.

Cộng đồng người Thái tại Nghệ An có những nét văn hóa đặc thù nào? Người Thái tại Nghệ An gồm 3 nhóm chính là Tày Mường, Tày Thanh và Tày Mười, chiếm 72,09% tổng số cư dân thiểu số toàn tỉnh. Bản sắc độc đáo thể hiện qua kiến trúc nhà sàn nóc khau cút, trang phục áo cóm khăn piêu, nghệ thuật dân gian khắp nhuôn, múa xòe và các tri thức bản địa trong canh tác lúa nước.

Hạn chế lớn nhất trong quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái hiện nay là gì? Hạn chế lớn nhất là nguồn lực đầu tư còn dàn trải, kinh phí thực tế chỉ đáp ứng khoảng 15% đến 20% nhu cầu bảo tồn. Bên cạnh đó, tư duy quản lý vẫn nặng tính hành chính bao cấp, thiếu cơ chế xã hội hóa và số lượng các cuộc thanh tra chuyên đề còn dưới 2 cuộc mỗi năm tại cấp huyện.

Kinh nghiệm từ các tỉnh bạn có thể áp dụng cho Nghệ An là gì? Nghệ An có thể học tập mô hình du lịch cộng đồng tại Bản Lác thuộc tỉnh Hòa Bình với 8 đội văn nghệ gồm 120 thành viên tự chủ, hoặc chính sách phục dựng lễ hội truyền thống gắn với giáo dục học đường của thành phố Điện Biên Phủ, nhằm biến di sản văn hóa thành sinh kế lâu dài.

Làm thế nào để phát triển kinh tế mà không làm mai một bản sắc văn hóa Thái? Giải pháp tối ưu là phát triển mô hình du lịch di sản bền vững, xây dựng 5 đến 10 làng văn hóa homestay chuẩn mực. Người dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa trực tiếp hưởng lợi kinh tế với mục tiêu tăng thu nhập thêm 25% đến 30%, từ đó nâng cao ý thức tự giác giữ gìn phong tục tập quán.

Kết luận

Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn sâu sắc:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước đối với văn hóa dân tộc thiểu số trong bối cảnh kinh tế thị trường.
  • Đánh giá chân thực thực trạng văn hóa của hơn 295.000 đồng bào Thái tại Nghệ An, nhận diện rõ nguy cơ mai một và bất cập trong tổ chức bộ máy quản lý.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng mô hình liên kết giữa quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng bản địa trong phát triển du lịch di sản.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực cán bộ đến thanh tra, kiểm tra và xã hội hóa nguồn lực.
  • Định hướng lộ trình thực hiện giai đoạn 2021 - 2025 nhằm bảo tồn nguyên vẹn 100% các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể cốt lõi.

Trong giai đoạn 2025 - 2030, các cấp chính quyền và cơ quan quản lý cần khẩn trương số hóa 100% tư liệu văn hóa Thái cổ và triển khai rộng rãi các mô hình bảo tồn động. Hãy chung tay hành động vì một nền văn hóa Thái Nghệ An giàu bản sắc, hòa nhập nhưng không hòa tan!