Tổng quan nghiên cứu

Công tác giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo đảm an sinh xã hội và ổn định an ninh chính trị tại vùng Tây Nguyên. Tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, các chính sách an sinh đã mang lại chuyển biến tích cực khi kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện từ mức 21,72% vào cuối năm 2010 xuống còn 9,33% vào cuối năm 2016. Dù vậy, thách thức đặt ra vẫn hết sức gay gắt khi tỷ lệ hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số lại chiếm tới 70,92% trong tổng số hộ nghèo toàn địa bàn theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2020.

Vấn đề cốt lõi mà nghiên cứu hướng đến là sự mất cân bằng phát triển kinh tế giữa các nhóm dân cư và hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo chưa đạt mức kỳ vọng. Toàn huyện hiện có 03 xã ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số trên 40%, 03 xã dao động trên 30% và 02 xã còn lại ở mức trên 14%. Mục tiêu của công trình là hệ thống hóa cơ sở khoa học, phân tích thực trạng quản lý nhà nước trong giai đoạn 2011 – 2016, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý giảm nghèo bền vững.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian hành chính huyện Cư Kuin gồm 8 xã với tổng diện tích 28.830 ha và quy mô dân số 100.016 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 32.494 người. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp chính quyền địa phương hiện thực hóa mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo 3% đến 4% mỗi năm, đồng thời nâng cao thu nhập bình quân đầu người vượt mốc 55,54 triệu đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý công hiện đại kết hợp lý thuyết nghèo đa chiều theo khung tiếp cận của Liên hợp quốc và Tổ chức Lao động Quốc tế. Luận văn vận dụng mô hình chu trình quản lý nhà nước gồm bốn khâu mắt xích: hoạch định chiến lược chính sách, tổ chức bộ máy và nhân sự, huy động phân bổ nguồn lực tài chính, và thanh tra kiểm tra đánh giá việc thực thi.

Bên cạnh đó, các khái niệm then chốt được làm rõ bao gồm:

  • Nghèo tuyệt đối: Tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu sinh tồn tối thiểu như ăn, mặc, ở theo chuẩn mức chung.
  • Nghèo tương đối: Hiện tượng cá nhân hoặc hộ gia đình có mức sống và nguồn lực vật chất thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của cộng đồng xã hội.
  • Nghèo đa chiều: Phương thức đo lường sự thiếu hụt kết hợp giữa thu nhập và mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, bao gồm ngưỡng thu nhập 700.000 đồng một người một tháng tại khu vực nông thôn kèm theo sự thiếu hụt từ 03 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
  • Quản lý nhà nước về giảm nghèo: Sự tác động có tổ chức bằng quyền lực công quyền nhằm điều tiết các nguồn lực kinh tế - xã hội để nâng cao đời sống dân cư khó khăn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp từ dữ liệu thống kê thứ cấp giai đoạn 2011 – 2016 của Chi cục Thống kê huyện Cư Kuin, các báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng hệ thống văn bản pháp quy từ Trung ương đến địa phương như Nghị quyết số 80/NQ-CP và Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu thực hiện bao phủ toàn bộ dữ liệu dân số của 8 xã trực thuộc với 100.016 nhân khẩu, khảo sát chuyên sâu phân tầng đối với 32.494 nhân khẩu dân tộc thiểu số. Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng tại 3 xã có tỷ lệ nghèo cao trên 40% kết hợp chọn mẫu phỏng vấn sâu đối với đội ngũ cán bộ công chức trực tiếp làm công tác chuyên môn tại cấp huyện và xã.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh chuỗi thời gian và thống kê mô tả là nhằm làm rõ xu hướng biến động kinh tế qua từng năm, theo dõi mức độ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp từ 70,37% năm 2011 xuống 56,15% năm 2016, đồng thời đánh giá chính xác tác động từ các chính sách an sinh xã hội đối với từng nhóm đối tượng cụ thể. Timeline nghiên cứu được thực hiện thu thập và xử lý toàn diện từ năm 2011 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, bức tranh kinh tế tổng thể của huyện Cư Kuin ghi nhận tốc độ tăng trưởng ổn định. Tổng giá trị sản xuất tính theo giá hiện hành đạt 3.832,160 tỷ đồng, giá trị sản xuất bình quân đầu người tăng trưởng mạnh mẽ từ mức 32,38 triệu đồng năm 2011 lên 55,54 triệu đồng năm 2016. Tỷ lệ hộ nghèo chung của toàn huyện đã giảm nhanh từ 21,72% xuống còn 9,33%.

Thứ hai, thực trạng nghèo đói có tính chất khu biệt sâu sắc khi tập trung chủ yếu vào đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Mặc dù dân số dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 32,49% dân số toàn huyện (32.494 người trên tổng số 100.016 người), nhưng số hộ nghèo dân tộc thiểu số lại chiếm tới 70,92% tổng số hộ nghèo toàn địa phương. Có sự phân hóa rõ nét giữa các đơn vị hành chính khi 3 xã ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số trên 40%, 3 xã từ 30% đến 40%, và chỉ có 2 xã duy trì dưới 20%.

Thứ ba, cơ cấu kinh tế đang có sự dịch chuyển theo hướng giảm dần tỷ trọng nông lâm nghiệp từ 70,37% năm 2011 xuống 56,15% năm 2016, công nghiệp - xây dựng tăng từ 9,55% lên 21,60%, thương mại - dịch vụ đạt 22,25%. Tuy nhiên, khả năng thích ứng của người dân tộc thiểu số với sự chuyển dịch này còn chậm do thiếu vốn, hạn chế về trình độ canh tác kỹ thuật cao và thói quen sản xuất tự cấp tự túc.

Thứ tư, bộ máy thực thi công tác giảm nghèo cấp cơ sở còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Tỷ lệ cán bộ chuyên trách am hiểu tiếng mẹ đẻ của đồng bào còn thấp, dẫn đến rào cản trong giao tiếp và chuyển giao công nghệ. Nguồn vốn chính sách giải ngân còn mang tính hỗ trợ ngắn hạn thay vì tập trung tạo dựng sinh kế bền vững.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích dữ liệu nghiên cứu, thực trạng có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột phân tầng thể hiện mức chênh lệch nghèo giữa các xã và bảng so sánh cơ cấu kinh tế qua chuỗi 6 năm. Những phát hiện này chỉ ra rằng, giảm nghèo về mặt số lượng chưa đồng nghĩa với giảm nghèo bền vững về mặt chất lượng.

Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc hoạch định chính sách trước đây còn nặng tính bao cấp, hỗ trợ trực tiếp bằng tiền và hiện vật khiến một bộ phận người dân nảy sinh tâm lý trông chờ, ỷ lại, thậm chí có hiện tượng muốn tách hộ để tiếp tục được hưởng chế độ hỗ trợ. So sánh với các địa phương khác như huyện Bắc Trà My (tỉnh Quảng Nam) với dư nợ tín dụng ưu đãi trên 180 tỷ đồng cho 6.608 hộ vay hay mô hình tại huyện Thanh Sơn (tỉnh Phú Thọ) hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 1.396 lượt hộ, sự thành công luôn gắn liền với việc trao quyền tự chủ sinh kế cho người dân và tăng cường vai trò đồng hành của từng cán bộ, đảng viên tại cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Cư Kuin giai đoạn tới, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, chuyển đổi phương thức hỗ trợ từ cho không sang hỗ trợ có điều kiện và tín dụng ưu đãi gắn với cam kết thoát nghèo trong chu kỳ 3 đến 5 năm. Ủy ban nhân dân huyện Cư Kuin phối hợp cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội cần triển khai các gói vay sản xuất với mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số từ 3% đến 4% mỗi năm, tập trung giải ngân cho các hộ thiếu vốn đầu tư cây công nghiệp trên diện tích 28.830 ha đất nông nghiệp.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp xã và thôn buôn. Phòng Nội vụ cùng Ban Dân tộc huyện cần tổ chức đào tạo tiếng dân tộc thiểu số và kỹ năng khuyến nông cho ít nhất 80% cán bộ cơ sở trong giai đoạn 2018 – 2020, phân công mỗi cán bộ đảng viên trực tiếp phụ trách, tư vấn cho từng hộ nghèo cụ thể theo mô hình đồng hành.

Thứ ba, xây dựng chuỗi liên kết giá trị giữa doanh nghiệp và nông hộ trong sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày như cà phê, hồ tiêu. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giữ vai trò chủ trì chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn quy trình tưới tiêu tiết kiệm, bao tiêu sản phẩm nông sản nhằm gia tăng giá trị sản xuất bình quân vượt ngưỡng 55,54 triệu đồng một người mỗi năm.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế thanh tra, kiểm tra và quy trình rà soát hộ nghèo đa chiều định kỳ 2 lần mỗi năm. Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc các cấp phải tăng cường giám sát công khai, minh bạch các danh mục thụ hưởng theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, kiên quyết khắc phục tình trạng bình xét sai đối tượng hoặc để sót các hộ thực sự khó khăn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Cán bộ thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc có thể tham khảo mô hình phân cấp quản lý và khung chính sách giảm nghèo đa chiều để áp dụng trực tiếp cho địa bàn có đặc thù dân cư tương tự.

  2. Đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp cơ sở tại 8 xã thuộc vùng dân tộc thiểu số: Cung cấp cẩm nang thực tiễn về kỹ năng điều tra phân loại nguyên nhân nghèo đói, phương pháp vận động đồng bào thay đổi tập quán sản xuất và quy trình triển khai nguồn vốn vay tín dụng chính sách.

  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực với đầy đủ cơ sở lý luận, hệ thống chỉ tiêu đo lường chuẩn nghèo qua các thời kỳ và phương pháp phân tích số liệu thực chứng trên quy mô 100.016 dân cư.

  4. Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị tài trợ phát triển cộng đồng: Giúp nắm bắt sâu sắc bức tranh kinh tế - xã hội, nhu cầu tiếp cận dịch vụ công của 32.494 người dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk, từ đó thiết kế các dự án tài trợ sinh kế và phát triển hạ tầng nông thôn chính xác, hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số tại Cư Kuin chiếm tỷ trọng cao tới 70,92%? Nguyên nhân chủ yếu do đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống phân tán tại các vùng khó khăn, thiếu đất sản xuất màu mỡ, trình độ thâm canh hạn chế và phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp truyền thống chiếm 56,15% cơ cấu kinh tế. Rào cản ngôn ngữ và tâm lý ỷ lại vào chính sách hỗ trợ cũng làm chậm tiến độ thoát nghèo.

  2. Điểm mới căn bản của chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg là gì? Chuẩn nghèo mới áp dụng phương pháp tiếp cận đa chiều, không chỉ xét tiêu chí thu nhập dưới 700.000 đồng một người một tháng ở nông thôn mà còn đo lường mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh và thông tin.

  3. Kinh nghiệm từ huyện Bắc Trà My và Lạc Dương có thể vận dụng ra sao cho Cư Kuin? Cư Kuin có thể học tập mô hình cán bộ đảng viên đồng hành giúp đỡ từng hộ nghèo của Bắc Trà My với tỷ lệ 92,4% đơn vị tham gia, đồng thời áp dụng chính sách khen thưởng, biểu dương kịp thời các hộ tự lực vươn lên thoát nghèo bền vững như huyện Lạc Dương đã thực hiện.

  4. Giải pháp nào để khắc phục tình trạng ỷ lại của người dân trong việc thụ hưởng chính sách? Luận văn đề xuất chấm dứt hình thức hỗ trợ phát tiền trực tiếp, chuyển sang cơ chế vay vốn ưu đãi có điều kiện qua Ngân hàng Chính sách Xã hội và yêu cầu hộ dân ký cam kết thoát nghèo trong 3 đến 5 năm gắn với chuyển giao kỹ thuật trồng trọt.

  5. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của huyện Cư Kuin tác động thế nào đến giảm nghèo? Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng lên 21,60% và thương mại - dịch vụ đạt 22,25% mở ra cơ hội việc làm phi nông nghiệp, giúp nâng thu nhập bình quân đầu người lên 55,54 triệu đồng, tạo nguồn thu ngân sách tái đầu tư cơ sở hạ tầng buôn làng.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với công tác giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong bối cảnh chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều.
  • Đánh giá chân thực bức tranh thực trạng tại huyện Cư Kuin giai đoạn 2011 – 2016: Dù tỷ lệ nghèo chung giảm còn 9,33% nhưng tỷ lệ nghèo dân tộc thiểu số vẫn chiếm tới 70,92%.
  • Chỉ rõ các nút thắt trong công tác điều hành: Thể chế còn phân tán, hỗ trợ trực tiếp gây tâm lý ỷ lại, năng lực cán bộ cơ sở về tiếng dân tộc còn nhiều khoảng trống.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về chuyển đổi cơ chế vốn vay sinh kế, đào tạo 80% cán bộ cơ sở và liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trên 28.830 ha đất.
  • Hoàn thiện công tác thanh tra giám sát định kỳ 2 lần mỗi năm nhằm bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị và thúc đẩy kinh tế Tây Nguyên phát triển toàn diện.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp khung giải pháp thực chứng, kết hợp hài hòa giữa lý luận quản lý công và thực tiễn địa phương cấp huyện. Lộ trình thực hiện cần được chính quyền địa phương triển khai ngay từ đầu giai đoạn 2018 – 2020 với các chỉ tiêu định lượng cụ thể. Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng hiệu quả vào công tác hoạch định và thực thi chính sách giảm nghèo bền vững.