Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách hỗ trợ của nhà nước 10 đối với các DNNVV. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các DNNVV tại VKTTĐ miền Trung giai đoạn 2011-2015. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các DNNVV tại VKTTĐ miền Trung. 11 Chuong 1 CO SO KHOA HQC VE THUC HIEN CHINH SACH HO TRO CỦA NHÀ NƯỚC DOI VOI DOANH NGHIEP NHO VA VUA 1.
Những vấn đề lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa e Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa - Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số nước trên thế giới Mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới có những tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV. Khái niệm DNNVV mang tính chất tương đối, nó thay đối tùy theo từng giai đoạn phát triển kinh tế, phụ thuộc vảo trình độ phát triển KT- XH từng nước. Nhìn chung, các nước trên thế giới sử dụng hai nhóm tiêu chí phô biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng đề định nghĩa DNNVV.
Về tiêu chí định tính, dựa trên đặc trưng cơ bản của các DNNVV như: chuyên môn hoá, số đầu mối quản lý, mức độ phức tạp của quản lý,. Các tiêu chí này có thể phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nhóm tiêu chí này thường chỉ được dùng làm cơ sở tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng làm cơ sở để xác định quy mô doanh nghiệp. Về tiêu chí định lượng, thường dựa trên các chỉ tiêu có thể đo lường được bao gồm: số lao động, tổng giá trị tài sản (hay tông vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận.
Trong đó vốn và số lao động được áp dụng nhiều nhất làm tiêu chí xác định DNNVV. Mặc dù dùng sử dụng nhóm tiêu chí nào hay mức độ quy mô cách biệt đến đâu, thì nhìn chung, trong phân chia quy mô DNVVN các quốc gia căn cứ vào yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong đó quy mô vốn, quy mô lao động sử dụng thường xuyên là hai tiêu chí cơ bản nhất để xác định DNVVN, nhưng việc lựa chọn các tiêu chí để phân 12 loại doanh nghiệp cũng rất đa dạng. Nghiên cứu về chính sách phát triển hệ thống DNNVV trên thế giới, cách xác định thế nào là DNNVV của mỗi nước có những khác biệt nhất định, có quốc gia đưa ra quy định khá chỉ tiết, nhưng cũng có những quốc gia, quy định đơn giản hơn, cụ thể: Tại Trung Quốc: Tiêu chí xác định DNNVV của Trung Quốc chỉ dựa vào số lao động mà không căn cứ vào vốn đăng ký hay bất kỳ một tiêu chí nào khác. Theo Luật khuyến khích phát triển DNNVV của Trung Quốc ngày 29/6/2002 thì DN nhỏ là những DN có từ 50-100 lao động thường xuyên và doanh nghiệp vừa là những DN có sử dụng từ 101 tới 500 lao động.
Tại Nhật Bản: Luật cơ bản về DNNVV đã được sửa đổi (ban hành ngày 3/12/1999) với nội dung thay đồi chủ yếu là tăng giới hạn vốn tối đa cho các DNNVV trong từng lĩnh vực. Mục đích của sự thay đổi nảy là làm tăng sé lượng DN có đủ điều kiện được hưởng các biện pháp trợ giúp DNNVV. Theo Luật mới, các tiêu chí xác định DNNVV được thể hiện theo từng ngành (gồm 4 nhóm ngành là sản xuất, bán buôn, bán lẻ và địch vụ) với hai tiêu chí đánh giá là số lao động tối đa và số vốn tối đa [44].1: Tiêu chí xác định DNNYVV của Nhật Bản Lĩnh vực Sô lao động tôi đa (người) Sô vôn tôi đa (triệu Yên) Sản xuât 300 300 Bán buôn 100 100 Bán lẻ 50 50 Dịch vụ 100 50 Nguôn: Chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV Nhật Bản, JICA, 1999 Tại Hàn Quốc: Hàn Quốc phân định DNNVV theo ngành kinh doanh dựa trên số lao động sử dụng, cụ thé: nganh san xuất, khai thác, vận tải số lao động nhỏ hơn 300 người; ngành xây dựng có số lao động nhỏ hơn 200 người; ngành thương mại và địch vụ có số lao động nhỏ hơn 20 người. 13 Tại Đài Loan: Nền kinh tế Đài Loan phát triển thịnh vượng trên cơ sở sự thành công của hệ thống DNNVV.
Do vậy, khác với nhiều quốc gia, kể từ năm 1967, Đài Loan đã có một định nghĩa chính thức về DNNVV được thể chế hóa trong các văn bản luật của Chính phủ. Định nghĩa DNNVV của Đài Loan được quy định rõ và chỉ tiết trong từng ngành nghề: - Trong các ngành chế tạo, xây dựng và khai mỏ: các DNNVV là các DN có vốn hoạt động dưới 80 triệu Đài tệ (khoảng 2,3 triệu USD) hoặc số người lao động thường xuyên dưới 200 người. - Trong các ngành nông nghiệp, lâm sản, ngư nghiệp, gây giống gia súc, nước, điện, năng lượng, khí gas, thương mại, vận tải, nhà kho, liên lạc, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, dịch vụ công nghiệp, dịch vụ thương mại, dịch vụ xã hội và dich vụ cá nhân: các DNNVV là các DN có doanh thu hàng năm dưới 100 triệu Đài tệ (khoảng 2,9 triệu USD), hoặc số người lao động thường xuyên dưới 50 người. Tại Thái Lan: Các quy định của Thái Lan xác định những DN sử dụng dưới 100 lao động và số vốn đưới 4 triệu đôla thì được coi là DNNVV.
Tại Malaysia: Việc xác định DNNVV theo ngành kinh doanh dựa trên sé lao động sử dụng và doanh thu. Ngành nông nghiệp: số lao động ít hơn 50 người, doanh thu nhỏ hơn 5 triệu Ringgit Malaysia (MYR); ngành sản xuất và dịch vụ: số lao động ít hơn 150 người, doanh thu nhỏ hơn 25 triệu MYR; ngành công nghệ thông tin: số lao động ít hơn 50 người, doanh thu nhỏ hơn 5 triệu MYR. - Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Trước năm 1998, Việt Nam không phân loại DN theo quy mô, mà phân loại DN theo 2 nhóm: DN quốc doanh và DN ngoài quốc doanh. Ngày 20/06/1998, Chính phủ ban hành công văn số 681/1998/CP-KTN, về việc định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ phát trién DNNVV, da danh dấu 14 bước khởi đầu trong quá trình thống nhất quan niệm và đây mạnh hỗ trợ DNNVV.
Theo hướng dẫn của công văn này, DNNVV là những DN có vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người. Văn bản này cũng cho phép các địa phương được quyền lựa chọn áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả hai tiêu chí căn cứ vào vào điều kiện cụ thể trong từng ngảnh, từng lĩnh vực. Đây có thể được coi là văn bản chính thức đưa ra tiêu chí xác định DNNVV. Ngày 23/11/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV.
Theo đó, Nghị định đã đưa ra tiêu chuẩn chính thức về DNNVV như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất — kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động” [10]. Như vậy tiêu chí để xác định DNNVV là: Có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, hoặc có số lượng lao động dưới 300 người. Theo Nghị định này, đối tượng được xác định là DNNVV bao gồm: các DN thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật doanh nghiệp nhà nước; Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã; Các hộ kinh doanh cá thê đăng ký theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh có số vốn đăng ký đưới 10 tỷ đồng Việt Nam hoặc số lao động bình quân hàng năm dưới 300 người. Như vậy, theo định nghĩa này, tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong hai tiêu thức lao động hoặc vốn đưa ra trong nghị định này đều được coi là DNNVV.
Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành định nghĩa mới về DNNVV trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát trién DNNVV, theo Nghị định này, “DWNVW là cơ sở kinh doanh đã đăng kỷ kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy 15 mô tổng nguôn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đổi kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân nam (tong nguon von là tiêu chí ưu tiên) ”. Nghị định này áp dụng đối với: các DNNVV, các tô chức trợ giúp phát triển DNNVV va co quan quan lý nhà nước về trợ giúp phát trién DNNVV. e Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Cho đến thời điểm nghiên cứu này thực hiện, việc phân loại DNNVV tại Việt Nam đang được xác định theo các tiêu chí của Nghị định số 56/2009/NĐ-CP. Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp `.
Doanh nghiép nho Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ Khu vực , Tông nguôn | _„ ˆ : N2 x Sô lao động. Sô lao động | Tông nguôn vôn| Sô lao động von I. Nông, lâm ¬¬ ay Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người trở |20 tỷ đông trở. „ „ nghiệp và thủy.
x người đên 200 đông đên 100 tỷ | người đên 300 xudng xuông ` sản người đông người IL Cong Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người trở |20 tỷ đồng trở - ¬ ; nghiệp và xây. x người đên 200 đông đên 100 tỷ | người đên 300 xudng xuông ` dựng người đông người ¬¬ ¬ Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 IH. Thương | 10 người trở | 10 tỷ đông „ ` „ „ ¬. người đên 50 | đông đên 50 tỷ | người đên 100 mại và dịch vụ xuông trở xuông người đồng người (Nguôn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ) Việc phân loại DNNVV theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Việt Nam hiện nay đã dựa trên các tiêu chí về: quy mô (quy mô vốn hay lao động) và tính chất ngành nghề.
Nhìn chung, các tiêu chí phân loại này tương đối phù hợp với điều kiện KT-XH của Việt Nam hiện nay nhất là xác định theo nhóm 16 ngành nghề. Việc sử dụng tiêu chí ngành nghề theo các nhóm ngành nghề với nhóm ngảnh nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ trong phân định DNNVV là cần thiết, bởi đặc thù trong hoạt động của các nhóm ngảnh nghề này có sự khác biệt rõ ràng. Tuy nhiên, cách phân loại theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP vẫn còn bất hợp lý về tiêu chí phân loại.