Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO LĨNH VỰC VĂN HÓA, THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực văn hoá, thông tin và truyền thông 1. Khái quát về chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực văn hóa, thông tin và truyền thông 1. Khái niệm và vai trò của chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực văn hóa, thông tin và truyền thông a) Khái niệm chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực văn hóa, thông tin và truyền thông - Khái niệm ngân sách nhà nước: Tài chính nhà nước tác động đến hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế xã hội, thể hiện qua quá trình phân phối và phân phối lại sản phẩm của xã hội.
TCNN đã hình thành trước so với ngân sách nhà nước (NSNN). Trong TCNN thì NSNN là bộ phận chủ yếu, quan trọng nhất vì nó là quỹ tiền tệ lớn nhất. Qua kênh thu, NSNN huy động và tập trung một bộ phận các nguồn tài chính trong xã hội dưới các hình thức như: Thuế và các khoản thu không mang tính chất thuế, vay nợ của Chính phủ trong và ngoài nước, viện trợ quốc tế. Qua kênh chi: Nhà nước sử dụng NSNN để cấp phát vốn, kinh phí, tài trợ về vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị dự toán ngân sách… nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Như vậy, NSNN gắn liền với hoạt động của Nhà nước, là một trong những công cụ hết sức quan trọng, không thể thiếu được nhằm đảm bảo hoạt động nhà nước. Nhà nước ra đời, hình thành và phát triển gắn liền hình thành chế độ sở hữu và đấu tranh giai cấp trong quá trình phát triển xã hội loài người, mang tính tất yếu và khách quan, do vậy NSNN cũng mang tính khách quan. 7 Khi không còn Nhà nước thì không còn NSNN. Bản chất Nhà nước quyết định bản chất NSNN, nhưng quản lý NSNN là những tổ chức và con người cụ thể nên quản lý NSNN mang tính chủ quan.
Do vậy, nhận thức đúng về bản chất NSNN và vận dụng thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả NSNN là cần thiết đối với mọi quốc gia, mọi cấp chính quyền. Khi nói về ngân sách nhà nước, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngân sách. Khái niệm về NSNN được hiểu đầy đủ tại khoản 14 Điều 4 Luật NSNN 2015: "Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước".( Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , 2015 ) - Khái niệm chi ngân sách nhà nước: Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí của bộ máy quản lý nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận theo những nguyên tắc nhất định. Luật NSNN đã xác định cụ thể chi NSNN bao gồm: các khoản chi phát triển KT - XH, đảm bảo quốc phòng - an ninh; đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.( Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , 2015 ) Mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, chi NSNN có những nội dung và cơ cấu khác nhau, song đều có những đặc trưng cơ bản như: - Chi NSNN luôn gắn chặt với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đó đảm nhiệm.
Nội dung chi ngân sách do chính quyền nhà nước các cấp đảm nhận theo quy định hoặc phân 8 cấp quản lý NSNN để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý, phát triển KT - XH. Các cấp của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN, vì các cơ quan đó quyết định các nhiệm vụ chính trị, KT-XH của vùng, miền, đất nước, thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân. - Chi ngân sách nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay ở phạm vi quốc gia. Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền KT-XH của Nhà nước.
Thông thường các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô. Điều này có nghĩa hiệu quả của các khoản chi ngân sách phải được xem xét toàn diện dựa trên việc hoàn thành các mục tiêu KT-XH đề ra. - Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả hoặc hoàn trả không trực tiếp và thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức chi tiêu công. Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về KT-XH của Nhà nước.
- Các khoản chi ngân sách gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ suất hối đoái… nói chung là các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ. Để đánh giá tính tích cực, tiến bộ của ngân sách một quốc gia người ta thường xem xét đến cơ cấu nội dung chi của ngân sách quốc gia đó. Cơ cấu chi ngân sách thường được hiểu là hệ thống các khoản chi ngân sách bao gồm các khoản chi và tỷ trọng của nó. Nội dung, cơ cấu chi NSNN là sự phản ảnh những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước đó trong từng giai đoạn lịch sử và chịu sự chi phối của các nhân tố sau.: Chế độ chính trị xã hội là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nội dung, cơ cấu chi ngân sách vì nó quyết định bản chất và nhiệm vụ KT-XH của Nhà nước.
9 - Sự phát triển của lực lượng sản xuất, vì nó tạo khả năng và điều kiện cho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi, vừa đặt ra yêu cầu thay đổi nội dung cơ cấu chi trong từng thời kỳ nhất định. - Khả năng tích lũy của nền kinh tế: khả năng này càng lớn thì nguồn chi đầu tư phát triển kinh tế cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu chi thường xuyên tăng lên. - Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ KT - XH mà nó đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Từ tổng hợp các phân tích trên, tác giả tổng hợp lại khái niệm: Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. - Khái niệm chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực văn hóa, thông tin và truyền thông: Văn hoá, thông tin và truyền thông là một trong những lĩnh vực có vai trò quan trọng trong việc duy trì truyền thống, phát huy những giá trị, bản sắc của dân tộc, đóng góp to lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Văn hoá, thông tin và truyền thông hỗ trợ cho nhà nước có thể thông tin đến người dân những chủ trương, chính sách phát triển của nhà nước, đồng thời cũng góp phần nâng cao giá trị cuộc sống tinh thần cho người dân. Do đó, mỗi quốc gia đều rất chú trọng tới việc đầu tư, phát triển hệ thống văn hoá, thông tin và truyền thông.
Từ khái niệm về ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước, có thể rút ra khái niệm chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực văn hoá, thông tin và truyền thông như sau: Chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực văn hoá, thông tin và truyền thông là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước trong lĩnh vực văn hoá, thông tin 10 và truyền thông theo những nguyên tắc nhất định. Chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực văn hoá, thông tin và truyền thông là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng phục vụ hoạt động lĩnh vực văn hoá, thông tin và truyền thông. b) Vai trò của chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực văn hóa, thông tin và truyền thông Vai trò đảm bảo hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hoá, thông tin và truyền thông. Đây là vai trò đầu tiên và là tiền đề cho các vai trò khác bởi vì bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào, chi ngân sách trước tiên cung cấp nguồn tài chính để đảm bảo cho bộ máy nhà nước tồn tại, hoạt động, từ đó thực hiện được chức năng quản lý xã hội.
Nền kinh tế thị trường với sự phân công lao động xã hội ở cấp độ cao, kinh tế phát triển, tạo ra nhu cầu hưởng thụ xã hội trên mọi lĩnh vực đều ở mức cao, bộ máy nhà nước càng cần tăng cường cả về số lượng và chất lượng để tương đồng với nhu cầu đó. Vì vậy, chi ngân sách dành tỷ trọng thoả đáng trả lương cho đội ngũ công chức và duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước là cần thiết. Một số quan điểm trước đây cho rằng: trong khuôn khổ hạn hẹp của NSNN, việc chi cho bộ máy nhà nước càng ít càng tốt, từ đó mà trong bố trí ngân sách chi hành chính thường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ và ít về số tuyệt đối. Kết quả là, tệ quan liêu, phiền hà, sách nhiễu.
trong bộ máy nhà nước thường là phổ biến và ở mức độ cao, nguyên nhân cơ bản nhất là đội ngũ công chức được hưởng quá thấp các lợi ích vật chất. Trước thực tế ấy, ở các nước kinh tế thị trường phát triển, NSNN bao giờ cũng dành ưu tiên cho nhu cầu của bộ máy nhà nước, đảm bảo ổn định và ràng buộc trách nhiệm của công chức bộ máy nhà nước với quyền năng được giao, để bộ máy này cung cấp cho xã hội hàng hoá công cộng thuần tuý với chất lượng cao nhất. Vai trò trong việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng quản lý xã hội về văn hoá, thông tin và truyền thông.