Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, khoa học và công nghệ được xác định là đòn bẩy then chốt thúc đẩy tái cấu trúc kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Tỉnh Ninh Bình với quy mô kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp và dịch vụ, ghi nhận tỷ trọng công nghiệp và xây dựng đạt 43,30%, dịch vụ đạt 43,05%, nông lâm thủy sản chiếm 13,65% cơ cấu kinh tế năm 2017. Năm 2018, ngành du lịch địa phương bứt phá với 7 triệu lượt khách du lịch, mang lại doanh thu 2.450 tỷ đồng, tăng 41% so với năm 2017. Để duy trì mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân 8,5%/năm, công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ đóng vai trò kiến tạo nền tảng vững chắc.

Tuy nhiên, thực tiễn quản lý khoa học và công nghệ tại địa phương giai đoạn 2014-2018 bộc lộ nhiều rào cản: cơ chế quản lý nhiệm vụ nghiên cứu còn thiếu tính liên kết thị trường, nguồn nhân lực chuyên trách tại cấp huyện còn mỏng và nhận thức về chính sách đổi mới công nghệ của doanh nghiệp chỉ đạt dưới 20%. Đề tài tập trung nghiên cứu toàn diện hệ thống chủ trương, chính sách và thực trạng quản lý nhà nước đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ, sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn đo lường chất lượng trên địa bàn 8 đơn vị hành chính của tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2014-2018, hướng tới mục tiêu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đến năm 2025. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần chuẩn hóa quy trình thẩm định 83 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh, thúc đẩy bảo hộ nhãn hiệu nông sản chủ lực và tạo động lực phát triển bền vững cho nền kinh tế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước hiện đại và lý thuyết quản trị công mới để giải quyết bài toán điều tiết vĩ mô đối với hoạt động khoa học và công nghệ. Khung phân tích dựa trên mô hình cấu phần công nghệ bao gồm bốn yếu tố tương tác hữu cơ: Kỹ thuật (Technoware), Con người (Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức (Organware). Đây là nền tảng để đánh giá năng lực công nghệ và hiệu quả của các chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết chu trình nghiên cứu và phát triển (R&D) với ba giai đoạn kế tiếp: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm tạo mẫu sơ khởi, thử nghiệm pilot và sản xuất thử nghiệm.

Hệ thống khái niệm cốt lõi trong luận văn được chuẩn hóa theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 và Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017, bao gồm:

  • Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ: Sự thực thi quyền lực hành pháp nhằm định hướng, điều tiết, kiểm tra và hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học vào đời sống kinh tế - xã hội.
  • Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Tập hợp các nỗ lực có hệ thống nhằm khám phá tri thức mới, tạo ra sản phẩm mẫu và làm chủ quy trình công nghệ tiên tiến.
  • Đổi mới công nghệ: Hoạt động thay thế hoặc nâng cấp một phần hay toàn bộ dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu tiêu hao nguyên nhiên liệu và nâng tầm chất lượng sản phẩm.
  • Dịch vụ khoa học và công nghệ: Các hoạt động kỹ thuật phụ trợ như sở hữu công nghiệp, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, thông tin thống kê và an toàn bức xạ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng với cỡ mẫu gồm 50 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trên địa bàn 8 huyện, thành phố của tỉnh Ninh Bình. Phương pháp này bảo đảm tính đại diện cao, phản ánh chính xác khả năng hấp thụ chính sách hỗ trợ công nghệ của các quy mô doanh nghiệp khác nhau.

Phương pháp phân tích tổng hợp dữ liệu thứ cấp được triển khai trên tập dữ liệu gồm 83 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh, 35 dự án thẩm định công nghệ và 580 hồ sơ đăng ký sở hữu trí tuệ được trích xuất từ các báo cáo chính thức của Sở Khoa học và Công nghệ Ninh Bình giai đoạn 2014-2018. Nghiên cứu phối hợp phương pháp chuyên gia và tọa đàm khoa học với hơn 20 cán bộ quản lý, nhà khoa học và chuyên viên có thâm niên công tác để thu thập ý kiến phản biện khách quan. Việc kết hợp chặt chẽ giữa định tính và định lượng giúp nhận diện chính xác các nút thắt trong khâu phân bổ ngân sách và thực thi thủ tục hành chính tại địa phương trong suốt timeline nghiên cứu 5 năm từ 2014 đến 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô ngân sách phân bổ cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh có sự tăng trưởng vượt bậc về chiều sâu. Trong giai đoạn 2014-2018, tỉnh Ninh Bình đã đầu tư triển khai 83 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học, trung bình mỗi năm thực hiện từ 16 đến 17 nhiệm vụ. Kinh phí bình quân cho mỗi nhiệm vụ tăng mạnh, đạt mức hỗ trợ bình quân 719 triệu đồng/nhiệm vụ. Các đề tài, dự án tập trung vào các giống cây trồng, con nuôi đặc sản như lúa nếp hạt cau, cá rô Tổng Trường, trạch tả và công nghệ chế tạo cơ khí chân vịt tàu thủy 6000DWT-7000DWT.

Thứ hai, công tác thẩm định công nghệ và thu hút dự án đầu tư nước ngoài (FDI) có bước đột phá lớn. Số lượng dự án thẩm định công nghệ tăng liên tục qua các năm, từ 12 dự án năm 2014 lên 35 dự án năm 2018, tương đương mức tăng trưởng 191,6%. Tính đến hết năm 2018, toàn tỉnh đã thu hút thành công 50 dự án đổi mới công nghệ FDI với tổng vốn đăng ký trên 1.195 triệu USD, trong đó 27 dự án nằm trong khu công nghiệp với quy mô vốn 660,37 triệu USD, chiếm 55,24% tổng vốn đầu tư công nghệ toàn địa bàn.

Thứ ba, mức độ tiếp cận các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ của khối doanh nghiệp địa phương còn rất hạn chế. Kết quả khảo sát 50 doanh nghiệp trên địa bàn cho thấy có tới 80% doanh nghiệp không biết đến Nghị định 119/1999/NĐ-CP, 94% không nắm được Nghị định 56/2009/NĐ-CP và 92% chưa tiếp cận được thông tin về Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia. Đặc biệt, tỷ lệ doanh nghiệp nhận được ưu đãi thuế trực tiếp cho đổi mới công nghệ đạt 0%, chỉ có 14% (7 doanh nghiệp) nhận được kinh phí hỗ trợ dự án và 20% (10 doanh nghiệp) tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi.

Thứ tư, hoạt động xác lập và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp gia tăng nhanh chóng nhưng tỷ lệ cấp văn bằng vẫn cần cải thiện. Tổng số đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp giai đoạn 2014-2018 đạt 580 đơn, tăng đều đặn từ 74 đơn năm 2014 lên 169 đơn năm 2018 (tăng 128,3%). Tuy nhiên, số văn bằng được Cục Sở hữu trí tuệ cấp mới chỉ đạt 215 văn bằng, đạt tỷ lệ bảo hộ thực tế khoảng 37,07%.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh đa chiều về công tác quản lý nhà nước tại Ninh Bình, có thể mô tả sinh động qua các biểu đồ phân bổ ngân sách nhiệm vụ theo thời gian và bảng so sánh tỷ lệ nhận biết chính sách của doanh nghiệp. Mặc dù số lượng nhiệm vụ cấp tỉnh được tuyển chọn rất khắt khe (năm 2018 chỉ xét chọn 15 nhiệm vụ trên tổng số 73 hồ sơ đề xuất, tương đương tỷ lệ 20,55%), tính ứng dụng thương mại sau nghiệm thu vẫn chưa cao do thiếu vắng giai đoạn sản xuất thử nghiệm loạt 0.

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế xuất phát từ tổ chức bộ máy quản lý. Cơ quan quản lý chuyên môn cấp tỉnh chỉ có 62 cán bộ, công chức và người lao động, trong khi toàn bộ cán bộ phụ trách khoa học công nghệ tại 8 huyện, thành phố đều hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm. Ngoài ra, kể từ năm 2014, cấp huyện không còn được bố trí riêng khoản kinh phí sự nghiệp khoa học 300 triệu đồng/năm như giai đoạn trước, dẫn đến sự suy giảm động lực triển khai đề tài tại cơ sở. So sánh với kinh nghiệm phân cấp tài chính của Thành phố Hồ Chí Minh (giao quyền cho Giám đốc Sở quyết định 30% ngân sách nghiên cứu cho các đề tài dưới 600 triệu đồng) hay mô hình kết nối cung cầu của tỉnh Đồng Nai, Ninh Bình cần sớm thiết lập Quỹ Phát triển khoa học công nghệ địa phương và tinh gọn thủ tục phê duyệt để doanh nghiệp chủ động tham gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới cơ chế quản lý tài chính và phân cấp ủy quyền trong xét duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và Sở Khoa học và Công nghệ cần xây dựng quy chế giao quyền chủ động cho người đứng đầu cơ quan chuyên môn phê duyệt nhanh các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng cấp thiết có kinh phí dưới 500 triệu đồng. Mục tiêu rút ngắn 30% thời gian thẩm định hồ sơ, triển khai ngay trong giai đoạn 2020-2022.

Thứ hai, thành lập Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Bình. Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ bố trí nguồn vốn ban đầu từ 15 đến 20 tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2023, tạo kênh tài trợ trực tiếp và bảo lãnh tín dụng lãi suất 0% cho các dự án đổi mới dây chuyền sản xuất. Phấn đấu nâng tỷ lệ doanh nghiệp thụ hưởng hỗ trợ công nghệ từ mức 14% hiện nay lên trên 50% vào năm 2025.

Thứ ba, kiện toàn bộ máy tổ chức và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ khoa học cơ sở. Sở Nội vụ phối hợp với Ủy ban nhân dân 8 huyện, thành phố xóa bỏ cơ chế kiêm nhiệm hoàn toàn tại các phòng Kinh tế và Kinh tế - Hạ tầng, bố trí tối thiểu 1 đến 2 cán bộ chuyên trách công tác khoa học công nghệ. Hàng năm tổ chức 10 lớp tập huấn chuyên môn cho trên 300 lượt cán bộ quản lý và đại diện doanh nghiệp.

Thứ tư, đẩy mạnh hỗ trợ thương mại hóa tài sản trí tuệ và phát triển nhãn hiệu hàng hóa. Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì triển khai chương trình bảo hộ sở hữu công nghiệp cho 100% nông sản chủ lực và sản phẩm làng nghề, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ cấp văn bằng bảo hộ đạt trên 100 văn bằng/năm giai đoạn 2021-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước: Cán bộ công tác tại Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính và phòng ban chuyên môn tại 8 huyện, thành phố sử dụng tài liệu để hoàn thiện quy trình tuyển chọn đề tài, thẩm định công nghệ và xây dựng dự toán ngân sách sự nghiệp.
  • Doanh nghiệp, hợp tác xã và các hiệp hội ngành nghề: Ban lãnh đạo các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham khảo các quy định về ưu đãi thuế, quy trình tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ đổi mới máy móc và các bước đăng ký bảo hộ nhãn hiệu nông sản.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý công và Kinh tế học khai thác bộ dữ liệu thực chứng 83 nhiệm vụ khoa học và phương pháp điều tra 50 doanh nghiệp để phục vụ công tác giảng dạy, viết tiểu luận hoặc luận văn thạc sĩ.
  • Các đơn vị tư vấn và hoạch định chính sách kinh tế: Các viện nghiên cứu, chuyên gia tư vấn chiến lược tham khảo mô hình phân tích để xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương tầm nhìn đến năm 2025 và 2030.

Câu hỏi thường gặp

Tình hình phân bổ ngân sách cho các nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh tại Ninh Bình giai đoạn 2014-2018 như thế nào?

Trong 5 năm từ 2014 đến 2018, tỉnh Ninh Bình đã đầu tư thực hiện 83 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học. Trung bình mỗi năm có 16 đến 17 nhiệm vụ được triển khai, với mức kinh phí hỗ trợ bình quân tăng mạnh đạt 719 triệu đồng cho mỗi nhiệm vụ, tập trung trọng điểm vào lĩnh vực nông nghiệp và giải quyết các bài toán cấp bách của địa phương.

Vì sao phần lớn doanh nghiệp tại Ninh Bình gặp khó khăn trong việc tiếp cận chính sách đổi mới công nghệ?

Khảo sát thực tế 50 doanh nghiệp chỉ ra rằng có tới 80% đơn vị không biết Nghị định 119/1999/NĐ-CP và 92% chưa nắm được Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia. Nguyên nhân chủ yếu do các kênh truyền thông chính sách chưa đa dạng, thủ tục thanh quyết toán còn phức tạp và doanh nghiệp địa phương thiếu đội ngũ chuyên viên am hiểu hồ sơ pháp lý để đăng ký nhận kinh phí hỗ trợ.

Ninh Bình đã đạt được kết quả cụ thể nào trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm đặc sản?

Giai đoạn 2014-2018 ghi nhận 580 đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp và có 215 văn bằng được cấp chính thức. Địa phương đã bảo hộ thành công nhiều nhãn hiệu nông sản chủ lực như Mật ong Cúc Phương, Trạch tả Ninh Bình, Đào phai Tam Điệp và cá rô Tổng Trường, gia tăng giá trị thương mại trên thị trường.

Nút thắt lớn nhất trong quản lý khoa học công nghệ cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình hiện nay là gì?

Hạn chế lớn nhất là toàn bộ cán bộ quản lý khoa học công nghệ tại 8 huyện, thành phố đều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Đồng thời, nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học cấp huyện 300 triệu đồng/năm đã bị cắt giảm từ năm 2014, khiến các cơ quan cơ sở phải trích kinh phí chi thường xuyên, làm hạn chế đáng kể hoạt động ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.

Bài học kinh nghiệm quốc tế và trong nước nào có giá trị tham khảo cao nhất cho Ninh Bình?

Ninh Bình có thể vận dụng mô hình phân quyền tài chính của Thành phố Hồ Chí Minh, cho phép Giám đốc Sở quyết định nhanh 30% ngân sách cho các nhiệm vụ dưới 600 triệu đồng. Đồng thời, tỉnh cần học tập kinh nghiệm kết nối cung cầu của tỉnh Đồng Nai và mô hình hội đồng khoa học độc lập có chuyên gia ngoài của Nhật Bản nhằm nâng cao tính khách quan khi xét duyệt đề tài.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước và cấu phần công nghệ, làm sáng tỏ các mắt xích quản lý nhiệm vụ khoa học có sử dụng ngân sách.
  • Phân tích chi tiết thực trạng triển khai 83 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh với mức đầu tư bình quân 719 triệu đồng/nhiệm vụ và 35 dự án thẩm định công nghệ giai đoạn 2014-2018.
  • Nhận diện các điểm nghẽn then chốt như 80% doanh nghiệp chưa tiếp cận chính sách hỗ trợ và toàn bộ cán bộ cấp huyện tại 8 địa phương còn làm việc kiêm nhiệm.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gồm phân cấp tài chính, thành lập Quỹ KH&CN với quy mô 15-20 tỷ đồng, kiện toàn nhân sự và đẩy mạnh bảo hộ sở hữu công nghiệp đến năm 2025.
  • Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và học viên cao học, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GRDP 8,5%/năm của tỉnh Ninh Bình. Các cơ quan quản lý và đơn vị nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng trực tiếp các đề xuất này vào thực tiễn quản lý địa phương ngay hôm nay.