Luận Văn Thạc Sĩ Về Quản Lý Chi Ngân Sách Nhà Nước Cho Hoạt Động Khoa Học Công Nghệ Tại Tỉnh Bắc Kạn

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ tại tỉnh Bắc Kạn, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

101
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ

Quản lý chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho hoạt động khoa học công nghệ (KHCN) là một lĩnh vực quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội. Ngân sách nhà nước được định nghĩa là tổng thể các khoản thu và chi của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định. Theo Nguyễn Thị Bình Minh, chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế xã hội. Hoạt động KHCN không chỉ là nghiên cứu mà còn bao gồm việc ứng dụng các kiến thức vào thực tiễn. Chi NSNN cho KHCN là khoản chi mang tính tích lũy, quyết định mức độ tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Việc quản lý chi NSNN cho KHCN cần đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách, nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

1.1. Khái niệm và vai trò của quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ

Quản lý chi NSNN cho hoạt động KHCN là tổng thể các biện pháp nhằm tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn ngân sách. Nguyễn Thu Thủy nhấn mạnh rằng quản lý chi NSNN giúp thực hiện chi đúng mục tiêu và đạt hiệu quả cao. Vai trò của quản lý chi NSNN cho KHCN bao gồm việc đảm bảo sử dụng ngân sách đúng mục đích và nâng cao hiệu quả chi. Nguồn ngân sách có hạn, do đó cần phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi NSNN cho KHCN. Đầu tư cho KHCN là điểm cơ bản để phát triển nền kinh tế tri thức, từ đó tạo ra giá trị kinh tế và xã hội cao.

II. Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ tại Bắc Kạn

Tỉnh Bắc Kạn đã có những nỗ lực trong việc quản lý chi NSNN cho hoạt động KHCN. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy nhiều hạn chế trong việc phân bổ và sử dụng ngân sách. Tỷ lệ chi NSNN cho KHCN chỉ chiếm 8% tổng chi NSNN của tỉnh, cho thấy sự thiếu hụt trong đầu tư cho lĩnh vực này. Nhiều đề tài chưa được nghiệm thu do kéo dài tiến độ thực hiện. Hoạt động KHCN tại Bắc Kạn cần được ưu tiên hơn trong việc phân bổ ngân sách, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc xây dựng kế hoạch chi NSNN cần phải cụ thể và có tính khả thi hơn để đảm bảo hiệu quả trong việc triển khai các dự án KHCN.

2.1. Đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ

Thực trạng quản lý chi NSNN cho KHCN tại Bắc Kạn cho thấy nhiều vấn đề cần khắc phục. Tỷ lệ giải ngân đúng hạn chỉ đạt 80,4%, cho thấy sự chậm trễ trong việc thực hiện các dự án. Nhiều đề tài không được nghiệm thu kịp thời, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng nghiên cứu. Cần có các biện pháp tăng cường quản lý, như thanh tra, kiểm tra thường xuyên để đảm bảo việc sử dụng ngân sách đúng mục đích. Việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN cũng cần được thực hiện để tìm ra giải pháp hiệu quả.

III. Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ tại Bắc Kạn

Để nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN cho KHCN tại Bắc Kạn, cần có các giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách với các mức phân bổ cụ thể, ưu tiên cho các dự án có tính khả thi cao. Đổi mới cơ chế sử dụng NSNN theo hướng tập trung vào kiểm soát kết quả KHCN là cần thiết. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và phối hợp giữa các cơ quan ban ngành cũng là yếu tố quan trọng để đảm bảo việc sử dụng ngân sách hiệu quả. Các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả chi NSNN mà còn góp phần phát triển bền vững hoạt động KHCN tại tỉnh Bắc Kạn.

3.1. Các giải pháp cụ thể để tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước

Các giải pháp cụ thể bao gồm việc xây dựng kế hoạch chi NSNN rõ ràng, có tính khả thi và ưu tiên cho các dự án KHCN. Cần đổi mới cơ chế sử dụng NSNN, tập trung vào kết quả và hiệu quả của các dự án. Tăng cường thanh tra, kiểm tra để đảm bảo việc sử dụng ngân sách đúng mục đích và hiệu quả. Phối hợp giữa các cơ quan ban ngành cũng cần được cải thiện để tạo ra sự đồng bộ trong quản lý chi NSNN cho KHCN. Những giải pháp này sẽ giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động KHCN tại Bắc Kạn.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN cho hoạt động KHCN 1. Ngân sách nhà nước và quản lý chi ngân sách nhà nước a. Khái niệm ngân sách nhà nước Dương Thị Bình Minh (2010), “Ngân sách nhà nước là một phạp trù kinh tế trong hệ thống tài chính quốc gia.

Thuật ngữ Ngân sách nhà nước được sử dụng rộng rãi trong kinh tế của mỗi quốc gia” [12]. Nguyễn Ngọc Hải (2008), “Ngân sách nhà nước là bao gồm các khoản thu và các khoản chi của nhà nước được phát sinh trong năm tài chính” [9]. Nguyễn Thị Bình Minh (2008), “Ngân sách nhà nước là việc dụ trù các khoản thu chi của đất nước trong một giải đoạn nhất định và thường được tính là một năm” [13]. Nguyễn Sinh Hùng (2010), “Ngân sách nhà nước là những hoạt động kinh tế được diễn ra trong quá trình huy động và sử dụng các nguồn lực về tài chính của đất nước đó” [10].

Theo luật ngân sách năm 2015, “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [18]. Từ các khái niệm đưa trên, chúng ta có thể hiểu Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu chi của một đất nước trong một giai đoạn“nhất định với biểu hiện là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước và nhà nước sử dụng quỹ tiền tệ đó để”chi tiêu cho các khoản cần thiết cho sự tồn tại của một quốc gia. Khái niệm chi ngân sách nhà nước Nguyễn Thị Bình Minh (2008), “Chi NSNN là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tại của Nhà nước. Chi NSNN là việc nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế xã hội dựa trên các nguyên tắc nhất định” [13].

Nguyễn Ngọc Hải (2008), “Chi ngân sách nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực trong đời sống, nó liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng đối tượng trong một đất nước. Chi ngân sách nhà nước có các cơ quan có thẩm quyền quyết định như: Quốc hội, Chính phủ và cơ quan chính quyền được ủy quyền thực hiện chi” [9]. Nguyễn Sinh Hùng (2010), “Chi ngân sách nhà nước là hoạt động kinh tế không vì lợi nhuận, đây là hoạt động vì lợi ích của công đồng, vì lợi ích chung của cả đất nước” [10]. Như vậy ta có thể hiểu: Chi ngân sách nhà nước là các khoản chi từ Ngân sách nhà nước nhằm đạt các mục tiêu về Kinh tế, chính trị xã hội của một đất nước.

Hoạt động khoa học công nghệ 1. Khái niệm hoạt động khoa học công nghệ Theo OECD, Khoa học được hiểu là một tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và tư duy về các quy luật khách quan, về sự tồn tại và phát triển của chúng trên cơ sở thực tiễn. Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Các lĩnh vực KHCN bao gồm: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, khoa học kỹ thuật công nghệ, khoa học nông nghiệp khoa học Y học [14].

Hoạt động KHCN là hoạt động có hệ thống, có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ta, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học công nghệ vào đời sống, xã hội. Hoạt động KHCN bao gồm các hoạt động nghiên cứu và 6 phát triển, giáo dục và đào tạo. Hoạt động giáo dục và đào tạo về KHCN là hoạt động ở bậc đại học và sau đại học và bồi dưỡng thường xuyên dành cho các nhà khoa học và kỹ sư. Dịch vụ KHCN là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, án toàn bức xa… Như vậy hoạt động nghiên cứu và phát triển là hoạt động quan trọng nhất và gắn liền với các chỉ số đo lường về khoa học công nghệ.

Nói đến hoạt động khoa học công nghệ trọng tâm và chủ yếu là nói đến hoạt động nghiên cứu và phát triển. Theo luật khoa học công nghệ Việt Nam (2013) Hoạt động khoa học công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ [17]. Đặc điểm của hoạt động khoa học công nghệ Hoạt động khoa học công nghệ là hoạt động trí tuệ. Do đó, năng suất lao động phụ thuộc vào năng lực trí tuệ của nhà khoa học.

Lao động của nhà khoa học không chỉ diễn ra trong giờ hành chính theo quy định mà thường là trong cả thời gian sống của nhà khoa học. Vì vậy, quản lý nhà khoa học không nên cứng nhắc kiểu giờ giấc hành chính mà nên tập trung vào kết quả khoa học. Mặt khác, hoạt động khoa học công nghệ là hoạt động lao động trí tuệ, với công cụ lao động chủ yếu là bộ não của con người mà cho đến nay vẫn còn tiền ẩn rất nhiều bí ẩn để có thể xác định công năng và giá trị thực tế của công cụ này. Hoạt động khoa học công nghệ có tính thừa kế.

Các nhà khoa học luôn được thừa kế trực tiếp hoặc gián tiếp các thông tin và kinh nghiệm hoạt động khoa học công nghệ của người đi trước. Mặt khác, nhà khoa học còn được kế 7 thừa các thông tin khoa học trong kho tàng chi thức của nhân loại và các tri thức của cộng đồng khoa học trên toàn thế giới. Hoạt động khoa học công nghệ không lặp lại trong nghiên cứu. Mục tiêu của hệ thống khoa học là luôn tìm tòi sáng tạo cái mới, khoa học công nghệ luôn vận động không ngừng và thay đổi nhanh chóng.

Với ý tưởng hay một vấn đề khoa học khi đã được nhận dạng cần giải quyết ngay, để lâu mới cấp kinh phí tiến hành nghiên cứu thì có thể đã trở lên lạc hậu, không còn tính cấp thiết và ý nghĩa. Tính rủi ro trong hoạt động khoa học công nghệ. Nghiên cứu khoa học là tìm cái mới, dò dẫm tìm cái chưa biết, phát triển tri thức để giải quyết một vấn đề chưa có giải pháp sẵn nên có nhiều rủi ro. Quá trình tìm tòi, sáng tạo ấy không thể đảm bảo tính thành công tuyệt đối, nên có nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện.

Quá trình tìm tòi và sáng tạo không thể đảm bảo thành công tuyệt đối, vì thường có những yếu tố bất ngờ, định tìm cái này lại ra cái khác… 1. Quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ 1. Khái niệm, vai trò quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ a. Khái niệm quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ Chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ Theo Nguyễn Thu Thủy (2018) Chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ là thể hiện mối quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị từ một bộ phận quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm duy trì và phát triển khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế xã hội [24].

Xét về mặt lâu dài thì chi NSNN cho hoạt động KH&CN là khoản chi mang tính tích lũy đặc biệt, là nhân tố quyết định mức độ tăng trưởng kinh tế trong tương lai, trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật là yếu tố sản xuất, là chìa khóa để phát triển. Hoạt động KH&CN không trực tiếp tạo ra sản 8 phẩm trực tiếp phục vụ tiêu dùng nhưng kết quả đạt được của hoạt động này khi đưa vào sản xuất lại góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất chất lượng, tạo ra nhiều sản phẩm mới có chất lượng cao, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy, có thể nói chi ngân sách cho hoạt động KH&CN một phần nào đó mang tính tiêu dùng xã hội. Quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ Theo Nguyễn Thu Thủy (2018) Quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động Khoa học và Công nghệ là tổng thể các biện pháp, các hình thức tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ [20].

Từ các khái niệm trên ta thấy rằng quản lý chi NSNN giúp cho việc thực hiện chi đúng với mục tiêu, đúng mục đích và đạt được hiệu quả cao. Thêm vào đó, KHCN ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống cũng như sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, NSNN sẽ là nguồn đầu tư tiên phong trong việc thực hiện phát triển và chuyển giao công nghệ vào đời sống và trong sản xuất Như vậy ta có thể hiểu quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ là việc sử dụng các quy định của nhà nước cũng như hệ thống các cơ quan nhà nước trong việc quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ nhằm đảm bảo việc chi có hiệu quả, đúng với quy định và góp phần nâng cao khả năng sản xuất kinh doanh cũng như nâng cao đời sống người dân. Vai trò quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ Thứ nhất: Đảm bảo sử dụng NSNN cho khoa học công nghệ đúng mục tiêu, đúng mục đích.

Nguồn ngân sách nhà nước thì có hạn trong khi phải chi cho nhiều mục đích khác nhau. Hiện nay, chi NSNN cho KHCN cũng không được nhiều vì vậy cần phải đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách này. Thông qua quá trình quản lý, cán bộ quản lý sẽ tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện việc chi NSNN cho mục đích KHCN, đảm bảo đúng mục tiêu đề ra, đúng mục theo quy định pháp luật. 9 Thứ hai: Nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả chi NSNN cho khoa học công nghệ: Việc đầu tư cho khoa học công nghệ là một trong những điểm cơ bản để các nước nghèo vươn mình trở thành các nước có nền kinh tế phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Quản Lý Chi Ngân Sách Nhà Nước Cho Khoa Học Công Nghệ Tại Bắc Kạn là một nghiên cứu chuyên sâu về việc quản lý và phân bổ ngân sách nhà nước dành cho lĩnh vực khoa học công nghệ tại tỉnh Bắc Kạn. Tài liệu này không chỉ phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính, đảm bảo phát triển bền vững khoa học công nghệ trong khu vực. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà quản lý, nghiên cứu viên và sinh viên quan tâm đến lĩnh vực tài chính công và khoa học công nghệ.

Để mở rộng kiến thức về quản lý ngân sách nhà nước, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ hoàn thiện công tác quản lý thu chi ngân sách nhà nước tại huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn chi tiết về quản lý thu chi ngân sách ở cấp địa phương. Ngoài ra, Quản lý thanh toán không dùng tiền mặt tại kho bạc nhà nước tỉnh Thái Nguyên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương thức quản lý tài chính hiện đại. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á mang đến cái nhìn tổng quan về vai trò của chi tiêu công trong phát triển kinh tế.

Mỗi tài liệu trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh liên quan đến quản lý ngân sách và tài chính công, từ đó nâng cao hiểu biết và kỹ năng trong lĩnh vực này.