Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN cho hoạt động KHCN 1. Ngân sách nhà nước và quản lý chi ngân sách nhà nước a. Khái niệm ngân sách nhà nước Dương Thị Bình Minh (2010), “Ngân sách nhà nước là một phạp trù kinh tế trong hệ thống tài chính quốc gia.
Thuật ngữ Ngân sách nhà nước được sử dụng rộng rãi trong kinh tế của mỗi quốc gia” [12]. Nguyễn Ngọc Hải (2008), “Ngân sách nhà nước là bao gồm các khoản thu và các khoản chi của nhà nước được phát sinh trong năm tài chính” [9]. Nguyễn Thị Bình Minh (2008), “Ngân sách nhà nước là việc dụ trù các khoản thu chi của đất nước trong một giải đoạn nhất định và thường được tính là một năm” [13]. Nguyễn Sinh Hùng (2010), “Ngân sách nhà nước là những hoạt động kinh tế được diễn ra trong quá trình huy động và sử dụng các nguồn lực về tài chính của đất nước đó” [10].
Theo luật ngân sách năm 2015, “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [18]. Từ các khái niệm đưa trên, chúng ta có thể hiểu Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu chi của một đất nước trong một giai đoạn“nhất định với biểu hiện là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước và nhà nước sử dụng quỹ tiền tệ đó để”chi tiêu cho các khoản cần thiết cho sự tồn tại của một quốc gia. Khái niệm chi ngân sách nhà nước Nguyễn Thị Bình Minh (2008), “Chi NSNN là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tại của Nhà nước. Chi NSNN là việc nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế xã hội dựa trên các nguyên tắc nhất định” [13].
Nguyễn Ngọc Hải (2008), “Chi ngân sách nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực trong đời sống, nó liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng đối tượng trong một đất nước. Chi ngân sách nhà nước có các cơ quan có thẩm quyền quyết định như: Quốc hội, Chính phủ và cơ quan chính quyền được ủy quyền thực hiện chi” [9]. Nguyễn Sinh Hùng (2010), “Chi ngân sách nhà nước là hoạt động kinh tế không vì lợi nhuận, đây là hoạt động vì lợi ích của công đồng, vì lợi ích chung của cả đất nước” [10]. Như vậy ta có thể hiểu: Chi ngân sách nhà nước là các khoản chi từ Ngân sách nhà nước nhằm đạt các mục tiêu về Kinh tế, chính trị xã hội của một đất nước.
Hoạt động khoa học công nghệ 1. Khái niệm hoạt động khoa học công nghệ Theo OECD, Khoa học được hiểu là một tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và tư duy về các quy luật khách quan, về sự tồn tại và phát triển của chúng trên cơ sở thực tiễn. Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Các lĩnh vực KHCN bao gồm: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, khoa học kỹ thuật công nghệ, khoa học nông nghiệp khoa học Y học [14].
Hoạt động KHCN là hoạt động có hệ thống, có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ta, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học công nghệ vào đời sống, xã hội. Hoạt động KHCN bao gồm các hoạt động nghiên cứu và 6 phát triển, giáo dục và đào tạo. Hoạt động giáo dục và đào tạo về KHCN là hoạt động ở bậc đại học và sau đại học và bồi dưỡng thường xuyên dành cho các nhà khoa học và kỹ sư. Dịch vụ KHCN là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, án toàn bức xa… Như vậy hoạt động nghiên cứu và phát triển là hoạt động quan trọng nhất và gắn liền với các chỉ số đo lường về khoa học công nghệ.
Nói đến hoạt động khoa học công nghệ trọng tâm và chủ yếu là nói đến hoạt động nghiên cứu và phát triển. Theo luật khoa học công nghệ Việt Nam (2013) Hoạt động khoa học công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ [17]. Đặc điểm của hoạt động khoa học công nghệ Hoạt động khoa học công nghệ là hoạt động trí tuệ. Do đó, năng suất lao động phụ thuộc vào năng lực trí tuệ của nhà khoa học.
Lao động của nhà khoa học không chỉ diễn ra trong giờ hành chính theo quy định mà thường là trong cả thời gian sống của nhà khoa học. Vì vậy, quản lý nhà khoa học không nên cứng nhắc kiểu giờ giấc hành chính mà nên tập trung vào kết quả khoa học. Mặt khác, hoạt động khoa học công nghệ là hoạt động lao động trí tuệ, với công cụ lao động chủ yếu là bộ não của con người mà cho đến nay vẫn còn tiền ẩn rất nhiều bí ẩn để có thể xác định công năng và giá trị thực tế của công cụ này. Hoạt động khoa học công nghệ có tính thừa kế.
Các nhà khoa học luôn được thừa kế trực tiếp hoặc gián tiếp các thông tin và kinh nghiệm hoạt động khoa học công nghệ của người đi trước. Mặt khác, nhà khoa học còn được kế 7 thừa các thông tin khoa học trong kho tàng chi thức của nhân loại và các tri thức của cộng đồng khoa học trên toàn thế giới. Hoạt động khoa học công nghệ không lặp lại trong nghiên cứu. Mục tiêu của hệ thống khoa học là luôn tìm tòi sáng tạo cái mới, khoa học công nghệ luôn vận động không ngừng và thay đổi nhanh chóng.
Với ý tưởng hay một vấn đề khoa học khi đã được nhận dạng cần giải quyết ngay, để lâu mới cấp kinh phí tiến hành nghiên cứu thì có thể đã trở lên lạc hậu, không còn tính cấp thiết và ý nghĩa. Tính rủi ro trong hoạt động khoa học công nghệ. Nghiên cứu khoa học là tìm cái mới, dò dẫm tìm cái chưa biết, phát triển tri thức để giải quyết một vấn đề chưa có giải pháp sẵn nên có nhiều rủi ro. Quá trình tìm tòi, sáng tạo ấy không thể đảm bảo tính thành công tuyệt đối, nên có nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện.
Quá trình tìm tòi và sáng tạo không thể đảm bảo thành công tuyệt đối, vì thường có những yếu tố bất ngờ, định tìm cái này lại ra cái khác… 1. Quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ 1. Khái niệm, vai trò quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ a. Khái niệm quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ Chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ Theo Nguyễn Thu Thủy (2018) Chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ là thể hiện mối quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị từ một bộ phận quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm duy trì và phát triển khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế xã hội [24].
Xét về mặt lâu dài thì chi NSNN cho hoạt động KH&CN là khoản chi mang tính tích lũy đặc biệt, là nhân tố quyết định mức độ tăng trưởng kinh tế trong tương lai, trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật là yếu tố sản xuất, là chìa khóa để phát triển. Hoạt động KH&CN không trực tiếp tạo ra sản 8 phẩm trực tiếp phục vụ tiêu dùng nhưng kết quả đạt được của hoạt động này khi đưa vào sản xuất lại góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất chất lượng, tạo ra nhiều sản phẩm mới có chất lượng cao, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy, có thể nói chi ngân sách cho hoạt động KH&CN một phần nào đó mang tính tiêu dùng xã hội. Quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ Theo Nguyễn Thu Thủy (2018) Quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động Khoa học và Công nghệ là tổng thể các biện pháp, các hình thức tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ [20].
Từ các khái niệm trên ta thấy rằng quản lý chi NSNN giúp cho việc thực hiện chi đúng với mục tiêu, đúng mục đích và đạt được hiệu quả cao. Thêm vào đó, KHCN ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống cũng như sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, NSNN sẽ là nguồn đầu tư tiên phong trong việc thực hiện phát triển và chuyển giao công nghệ vào đời sống và trong sản xuất Như vậy ta có thể hiểu quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ là việc sử dụng các quy định của nhà nước cũng như hệ thống các cơ quan nhà nước trong việc quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ nhằm đảm bảo việc chi có hiệu quả, đúng với quy định và góp phần nâng cao khả năng sản xuất kinh doanh cũng như nâng cao đời sống người dân. Vai trò quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ Thứ nhất: Đảm bảo sử dụng NSNN cho khoa học công nghệ đúng mục tiêu, đúng mục đích.
Nguồn ngân sách nhà nước thì có hạn trong khi phải chi cho nhiều mục đích khác nhau. Hiện nay, chi NSNN cho KHCN cũng không được nhiều vì vậy cần phải đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách này. Thông qua quá trình quản lý, cán bộ quản lý sẽ tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện việc chi NSNN cho mục đích KHCN, đảm bảo đúng mục tiêu đề ra, đúng mục theo quy định pháp luật. 9 Thứ hai: Nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả chi NSNN cho khoa học công nghệ: Việc đầu tư cho khoa học công nghệ là một trong những điểm cơ bản để các nước nghèo vươn mình trở thành các nước có nền kinh tế phát triển.