Chương 1. Cơ sở khoa học về quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước Chương 2. Thực trạng quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước tại huyện Ea Súp. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước tại huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.
xiv e CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan về chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nƣớc 1.1 Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản 1. Đầu tư Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 3 – Giải thích từ ngữ, khái niệm đầu tư được hiểu: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [35, tr. Đầu tư cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định đưa vào hoạt động trong các lĩnh vực KT - XH khác nhau.
Trong hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động. Khác với đối tượng lao động (nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm …) các tư liệu lao động (như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải …) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó thành mục đích của mình. Xét về mặt tổng thể thì không một hoạt động đầu tư nào mà không cần phải có các tài sản cố định, nó bao gồm toàn bộ cơ sở kỹ thuật đủ tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với giá cả từng thời kỳ. Hoạt động đầu tư cơ bản thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng để tạo ra các tài sản cố định được gọi là đầu tư XDCB.
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực KT - XH, 1 e nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư XDCB có những đặc điểm riêng biệt, đòi hỏi nhà quản lý phải nắm vững để đưa ra các quyết định quản lý phù hợp nhất. Bao gồm các đặc điểm sau: Đầu tư XDCB là hoạt động đòi hỏi lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Vì vậy, quản lý và cấp vốn đầu tư XDCB phải thiết lập các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng và thất thoát vốn đầu tư, đảm bảo cho quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện đúng theo kế hoạch và tiến độ đã được xác định. Đầu tư XDCB có tính chất lâu dài, thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành công của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra. Vì vậy, các yếu tố thay đổi theo thời gian sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quản lý đầu tư XDCB, chẳng hạn: giá cả, lạm phát, lãi suất,. Sản phẩm đầu tư XDCB là các công trình xây dựng gắn liền với đất XDCT.
Vì vậy, mỗi công trình xây dựng có một địa điểm xây dựng và chịu sự chi phối bởi điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, môi trường, khí hậu, thời tiết,. của nơi đầu tư XDCB, nơi đầu tư XDCT cũng chính là nơi đưa công trình vào khai thác, sử dụng. Sản phẩm XDCB chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng. Chính vì vậy, quản lý vốn đầu tư XDCB phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư XDCT được xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư XDCT.
2 e Sản phẩm đầu tư XDCB có tính đơn chiếc; mỗi hạng mục công trình, công trình có một thiết kế và dự toán riêng tùy thuộc vào mục đích đầu tư và điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu, thời tiết. của nơi đầu tư XDCT. Mục đích của đầu tư và các điều kiện trên quyết định đến quy hoạch, kiến trúc, quy mô và kết cấu khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công. và dự toán chi phí đầu tư XDCT, hạng mục công trình.
Vì vậy, quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng nhằm quản lý chặt chẽ về chất lượng xây dựng và vốn đầu tư. Đầu tư XDCB được tiến hành trong tất cả ngành kinh tế quốc dân, các lĩnh vực kinh tế xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xây dựng, y tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. nên sản phẩm XDCB có nhiều loại hình công trình và mỗi loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng. Quản lý và cấp vốn đầu tư XDCB phải phù hợp với đặc điểm của từng loại hình công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Đầu tư XDCB thường được tiến hành ngoài trời nên luôn chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công XDCT thường xuyên phải di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu đầu tư XDCT. Quản lý và cấp vốn đầu tư XDCB phải thúc đẩy quá trình tổ chức hợp lý các yếu tố về nhân lực, máy móc thi công. nhằm giảm bớt lãng phí, thiệt hại về vật tư và tiền vốn trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình. Những đặc điểm của đầu tư XDCB nêu trên cho thấy tính đa dạng và phức tạp của đầu tư XDCB và đòi hỏi cần phải có cách thức tổ chức quản lý và cấp phát vốn phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư.
Chính vì vậy, quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN cần phải có những nguyên tắc nhất định, biện pháp, trình tự quản lý, cấp phát vốn dựa trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý chi NSNN nói chung và được vận dụng phù hợp với đặc điểm của điểm đầu tư xây 3 e dựng cơ bản 1. Các giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng và đặc điểm của sản xuất xây dựng chi phối nên hoạt động đầu tư XDCB đòi hỏi phải tuân thủ trình tự các bước theo từng giai đoạn. Vi phạm trình tự đầu tư XDCB sẽ gây ra lãng phí, thất thoát và tạo sơ hở cho phát sinh các tiêu cực trong hoạt động đầu tư XDCB. Trên cơ sở quy hoạch đã phê duyệt trình tự thực hiện dự án đầu tư bao gồm ba giai đoạn và thực hiện theo từng bước như sau: Sơ đồ 1.
Sơ đồ các giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản Giai đoạn I Chuẩn bị đầu tư Nghiên cứu cơ Nghiên cứu tiền Nghiên cứu khả Thẩm định và hội đầu tư khả thi thi phê duyệt dự án Giai đoạn II Thực hiện đầu tư Thiết kế, lập tổng Ký kết hợp đồng Thi công xây lắp Chạy thử, nghiệm dự toán, dự toán xây dựng công trình thu và quyết toán Giai đoạn III Đưa vào khai thác, sử dụng Nguồn: luật đầu tư xây dựng cơ bản 4 e Qua sơ đồ trên ta thấy: Bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau, giai đoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn sau. Tuy nhiên tùy tính chất và qui mô của dự án mà các bước trên có thể rút ngắn lại như: ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đối với những dự án vừa và nhỏ thì có thể không cần bước nghiên cứu cơ hội đầu tư và bước nghiên cứu tiền khả thi mà xây dựng luôn dự án khả thi, thậm chí chỉ cần lập báo cáo kinh tế kỹ thuật đối với những dự án có thiết kế mẫu. Khi bước trước đã thực hiện xong, trước khi kiểm tra thực hiện bước tiếp theo phải kiểm tra để đánh giá đầy đủ các khía cạnh về kinh tế, tài chính, kỹ thuật của bước đó, nếu đạt yêu cầu về các tiêu chuẩn, quy phạm đã quy định (nếu có) cho bước đó và được cấp có thẩm quyền chấp nhận mới thực hiện bước tiếp theo; đáng lưu ý nhất là thực hiện trình tự theo giai đoạn (chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa vào khai thác sử dụng) phải được cấp có thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt nghiêm túc. - Chuẩn bị đầu tư: Giai đoạn này bao gồm các bước như sau: Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư.
Tiến hành thăm dò, xem xét thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ; tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư. Tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng. Lập dự án đầu tư. Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan chức năng thẩm định dự án đầutư.
Với những nội dung quan trọng như trên thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư là giai đoạn tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau 5 e (giai đoạn thực hiện đầu tư và đưa vào khai thác sử dụng). Do đó đối với giai đoạn này thì mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu là quan trọng nhất, chừng nào còn thấy phân vân về kết quả nghiên cứu thì chừng đó còn giành thời gian để nghiên cứu tiếp. - Thực hiện đầu tư: Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (bao gồm cả mặt nước, mặt biển, thềm lục địa). Chuẩn bị mặt bằng xây dựng.
Tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình. Phê duyệt, thẩm định thiết kế và tổng dự toán, dự toán hạng mục công trình. Tổ chức đấu thầu thi công xây lắp, cung ứng thiết bị. Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có).
Ký kết hợp đồng kinh tế với nhà thầu đã trúng thầu.