PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong hệ thống ASXH, thì hệ thống BHXH giữ vai trò trụ cột, bền vững nhất. Phát triển BHXH sẽ là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách ASXH, hỗ trợ các thành viên trong xã hội trƣớc những rủi ro vĩ mô, cả cú sốc về kinh tế và cú sốc về tự nhiên gây ra góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào, Chính phủ cũng đều rất quan tâm, chính sách BHXH.
Đây là một trong những công cụ quan trọng đƣợc sử dụng nhằm thực hiện mục tiêu ổn định, tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội. Ngay từ khi giành độc lập, Chính phủ Việt Nam đã rất chú trọng tới việc thực hiện chính sách BHXH đối với NLĐ, ổn định xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển. Cùng với sự hình thành của hệ thống BHXH Việt Nam, BHXH Nghệ An đƣợc thành lập theo Quyết định 16/QĐ-BHXH ngày 15 tháng 6 năm 1995 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Trải qua đến nay là 26 năm hoạt động với những kết quả đạt đƣợc, BHXH Tỉnh Nghệ An góp phần ổn định chính trị, thức đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn.
BHXH Tỉnh Nghệ An là bộ phận cấu thành của BHXH Việt Nam, BHXH Tỉnh Nghệ An có chức năng trực tiếp thực hiện các chế độ chính sách BHXH của Nhà nƣớc đối với NLĐ trên địa bàn Tỉnh Nghệ An. Theo BHXH Tỉnh thì hiện nay, Nghệ An đang dẫn đầu cả nƣớc vể tổng số ngƣời tham gia BHXH tự nguyện. Tính đến hết tháng 9/2020, toàn tỉnh có 68.818 ngƣời tham gia BHXH tự nguyện (chiếm gần 10% tổng số ngƣời tham gia BHXH tự nguyện toàn quốc). Số ngƣời tham gia BHXH tự nguyện tăng mới từ đầu năm 2020 đến nay là 18.853 ngƣời, tăng 37,73% so với năm 2019.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt đƣợc, BHXH Tỉnh Nghệ An, đại diện các phòng chức năng và BHXH các huyện, Thành phố Vinh gặp nhiều khó khăn, vƣớng mắc trong thực hiện chính sách BHXH nói chung, BHYT, BHTN nói riêng trên địa bàn. Trong đó, do ảnh hƣởng của dịch bệnh Covid-19, nhiều DN phải thu hẹp sản xuất kinh doanh hoặc tạm ngừng hoạt động, NLĐ không có việc làm phải nghỉ việc; thu nhập 2 ngƣời dân giảm đã tác động tiêu cực đến việc tham gia, chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN. Công tác thanh tra, kiểm tra trực tiếp tại đơn vị gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, Nghệ An là Tỉnh có địa bàn rộng, dân số đông, các khu công nghiệp xuất hiện trên địa bàn Tỉnh ngày càng nhiều, do đó số lƣợng DN, số đối tƣợng hƣởng BHXH ngày càng tăng, đa dạng, phức tạp, số tiền chi BHXH ngày càng lớn nên vấn đề quản lý tốt đối tƣợng, tổ chức chi kịp thời đúng kỳ, đủ số tiền đến tay ngƣời thụ hƣởng….
đang là những khó khăn, thách thức không nhỏ đòi hỏi BHXH Tỉnh Nghệ An phải có biện pháp giải quyết kịp thời. Công tác quản lý chi BHXH có thể coi là một khâu trọng yếu trong việc thực hiện các chế độ, chính sách BHXH. Quản lý chi BHXH nếu đƣợc thực hiện tốt sẽ gián tiếp tạo đà cho công tác thu BHXH, cũng là giúp cho hoạt động BHXH phát triển, từ đó góp phần làm cho mục đích của chính sách BHXH phát huy vai trò hơn nữa. Trong quá trình thực hiện chính sách trên địa bàn Tỉnh Nghệ An còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót đặc biệt trong công tác quản lý chi và quản lý chi các chế độ cho ngƣời hƣởng BHXH vẫn còn nhiều vấn đề phải khắc phục.
Việc sử dụng kinh phí của cơ quan BHXH chƣa thật sự hiệu quả. Đây là những khó khăn lớn đối với quản lý chi của BHXH Nghệ An trong nhiều năm qua cần đƣợc giải quyết, đảm bảo cho NLĐ tham gia BHXH và thụ hƣởng các chế độ, chính sách BHXH thuận lợi. Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá công tác quản lý chi BHXH cũng nhƣ phân tích nguyên nhân và đề ra kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện công tác quản lý chi BHXH kịp thời, đúng quy định, thuận lợi cho ngƣời tham gia BHXH là cần thiết đối với Tỉnh Nghệ An hiện nay và trong thời gian tới. Xuất phát từ cả lý thuyết và thực tế đó, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý chi bảo hiểm xã hội tại Tỉnh Nghệ An” để thực hiện luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý kinh tế.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Tổng quan về bảo hiểm xã hội 2. Những nghiên cứu của các học giả ngoài nước BHXH là một trong những công cụ quan trọng đảm bảo ASXH, trong đó có 3 rất nhiều vấn đề, quan điểm nhìn nhận khác nhau trong những bối cảnh, môi trƣờng khác nhau chính vì vậy mà có rất nhiều học giả trên thế giới đã nghiên cứu về vấn đề này cụ thể là: - Ma. Mandigma (2016), “Determinants of Social Insurance Coverage in the Philippines”.
Nghiên cứu đã phân tích mức độ bao phủ ASXH, trong đó chiếm ƣu thế nhất là BHXH ở Philippines bằng cách xem xét mối quan hệ với các biến số kinh tế và phi kinh tế chính đƣợc lựa chọn. Dữ liệu đƣợc tác giả tổng hợp trong giai đoạn 2000-2013 và kiểm tra bằng cách sử dụng mô hình tuyến tính tổng quát đa biến. Tác giả sử dụng phƣơng pháp hiệu ứng cố định, hiệu ứng ngẫu nhiên và phƣơng pháp khoảnh khắc tổng quát. Kết quả cho thấy mức độ bao phủ của ASXH đƣợc đại diện bởi những ngƣời đóng góp hoạt động kinh tế bị ảnh hƣởng bởi một số biến số kinh tế nhƣ: tính ổn định của nền kinh tế, hình thành vốn, tăng lƣơng, đô thị hóa, phát triển kinh tế và toàn cầu hóa.
Phạm vi bảo hiểm đối với ngƣời cao tuổi cũng bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố kinh tế nói trên. Hơn nữa, các động lực phi kinh tế tác động đến tỉ lệ ngƣời cao tuổi đƣợc hƣởng ASXH là lý thuyết nữ quyền, giáo dục, các khu vực phi chính thức và tỷ lệ đói nghèo. Enoff, Roddy McKinnon (2011), “Social Security Contribution Collection and Compliance: Improving Governance to Extend Social Protection”. Nghiên cứu đã sử dụng phƣơng pháp khảo sát thu thập số liệu từ các tổ chức ASXH và cơ quan thu đóng góp, mục đích chính của bài viết này là thúc đẩy chia sẻ kiến thức và thực hành tốt về thu đóng góp và thực thi tuân thủ.
Mặc dù việc thu thập và tuân thủ đóng góp có các khía cạnh bảo vệ xã hội, chính trị và tài chính quan trọng nhƣng nghiên cứu này định hƣớng việc theo đuổi các mục tiêu này nhƣ một khía cạnh của quản trị hành chính tốt. Ngoài việc cải thiện mức độ đầy đủ lợi ích và sức khỏe tài chính đạt thành công nhƣ vậy là do các nỗ lực của quốc gia nhằm mở rộng phạm vi bảo trợ xã hội. - Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (2013), “Innovations in extending social insurance coverage to independent workers: Experiences from Brazil, Cape Verde, Colombia, Costa Rica, Ecuador, Philippines, France and Uruguay”. Nghiên cứu 4 này đã phân tích những kinh nghiệm tƣơng đối thành công của bảy quốc gia đang phát triển và một quốc gia phát triển trong việc cung cấp bảo hiểm cho những NLĐ độc lập.
Nhóm tác giả đã tìm cách chứng minh mối liên hệ giữa các kết quả liên quan đến phạm vi bảo hiểm với thực tiễn tài chính, quản lý và tổ chức tài chính ở các quốc gia Brazil, Colombia, Costa Rica, Ecuador, Pháp và Uruguay. Nghiên cứu đã trình bày chi tiết các chiến lƣợc quốc gia đã tìm cách mở rộng phạm vi bao phủ BHXH thông qua trợ cấp và nhắm mục tiêu theo mức thu nhập. Bên cạnh đó, nêu ra kinh nghiệm của các quốc gia trong đổi mới khi cơ cấu lại khuôn khổ hành chính kết hợp với các chính sách khuyến khích đặc biệt vàđã đạt đƣợc những kết quả tích cực. Cuối cùng, nghiên cứu đƣa ra những ví dụ về các chƣơng trình đặc biệt cho các công ty nhỏ và rất nhỏ ở một số quốc gia và điều đó có tác động đáng kể đến mức độ bao phủ ASXH.
(2014), “Work and tax evasion incentive effects of social insurance programs: Evidence from an employment-based benefit extension”. Nghiên cứu này chỉ ra cách các chƣơng trình BHXH hình thành động cơ khuyến khích cá nhân tiếp nhận việc làm đã đăng ký và báo cáo thu nhập cho cơ quan thuế. Phân tích dựa trên một cuộc cải cách BHXH ở Uruguay đã mở rộng phạm vi bao phủ chăm sóc sức khỏe cho trẻ em phụ thuộc của công nhân khu vực tƣ nhân đã đăng ký. Chiến lƣợc xác định dựa trên sự so sánh giữa các cá nhân có và không có trẻ em phụ thuộc trƣớc và sau khi cải cách.
Cải cách đã làm tăng số việc làm đã đăng ký đủ điều kiện hƣởng lợi lên 1,6 điểm phần trăm (cao hơn khoảng 5% so với mức cải cách tiên quyết), chủ yếu là do sự gia tăng lực lƣợng lao động tham gia thay vì chuyển từ việc làm chƣa đăng ký sang việc làm đã đăng ký. Sự thay đổi lớn hơn đối với các bậc cha mẹ có con nhỏ và những ngƣời trƣởng thành sống thử mà công việc của bạn đời không cung cấp cho con cái của các cặp vợ chồng cơ hội tiếp cận lợi ích. Cuối cùng, cải cách đã làm tăng tỷ lệ báo cáo thu nhập đƣợc trả lƣơng thấp hơn khoảng 4% (cao hơn 25% so với mức trƣớc cải cách), chủ yếu đối với NLĐ làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ. - Rebecca Holmes, Lucy Scott (2016), “Extending social insurance to informal workers”.
NLĐ phi chính thức phải đối mặt với mức độ rủi ro cao nhƣng 5 phần lớn không đƣợc hƣởng BHXH. Trong khi đó, phụ nữ lao động là phái yếu làm việc trong khu vực phi chính thức phải đối mặt với những rủi ro cao hơn so với nam giới trên thị trƣờng lao động và trong suốt vòng đời. Vì vậy, ngày càng có nhiều quốc gia mở rộng BHXH cho lao động phi chính thức. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp ngoại lệ, các chính sách vẫn còn không rõ ràng về giới.
Các cải cách đáp ứng giới có thể đảm bảo tăng mức độ bao phủ của phụ nữ, bao gồm cả nữ lao động phi chính thức, để giải quyết những rủi ro mà họ phải đối mặt nhƣ: (i) pháp luật trên thị trƣờng lao động; (ii) công nhận nền kinh tế chăm sóc; (iii) thiết kế chính sách sáng tạo trong các lựa chọn thanh toán và đơn giản hóa các quy trình hành chính; và (iv) đầu tƣ vào năng lực cung cấp dịch vụ nhạy cảm về giới. - Ben Braham Mehdi (2016), “Pension Systems Contribution Determinants: a Cross Sectional Analysis on Tunisia”.