Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên các trường mầm non Quận Cầu Giấy, Hà Nội. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên các trường mầm non Quận Cầu Giấy, Hà Nội. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên các trường mầm non quận Cầu Giấy, Hà Nội. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NGHIỆP VỤ SƢ PHẠM CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1.
Lý luận về quản lý, hoạt động bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm cho giáo viên mầm non 1. Quản lý Quản lý là đặc trưng cho một quá tr nh điều khiển và hướng dẫn tất cả các bộ phận của một tổ chức; đó là êu cầu tối thiểu của việc lý giải vẫn đề lý luận vfa nghiên cứu quản lý học. Xét trên một phương diện nghĩa của từ quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó Xuất phát rên nhiều góc độ và nghiên cứu hác nhau, đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa về quản lý như sau Tailor “Làm quản lý là bạn phải luôn xác định được việc bạn muốn người khác làm gì và cách thức họ làm để khoa học, không tốn nhiều thời gian để đạt được những gì bạn muốn trong cách họ thực thi nhiệm vụ của bạn”. Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm.
Mục tiêu của các nhà quản lý, nhằm đặt ra bản chất của quản lý không phải là nhận thức mà phải thuể hiện ở hành động để đạt được các nội dung yêu cầu Để kiểm chứng hoạt động đó không phải chỉ sự lozic cuả vấn đề mà thể hiện ở thành quả của nó đặt ra. Và quyền uy cuối cùng là thành tích đạt được Đã có nhiều tác giả đưa ra hái niệm quản lý theo những cách tiếp cận hoạt động ở các góc độ khác nhau: Theo Harold oontz th “quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp cho con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định” [19, tr. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động có tính định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định”, “Quản lý nhằm kết hợp những nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành thành tựu của tổ chức, của xã hội” [23]. Theo Fa le: “Quản lý là mọi tổ chức đều có các kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” 10 Theo quan điểm của Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hưỡng của người quản lý đến người bị quản lý đòi hỏi việc người bị quản lý tận dụng các thời cơ, các năng lực vốn có của mình để đạt được mục đích đề ra trong môi trường hiện tại” Và từ những quan niệm trên ta có thể hiểu:“Quản lý là tác động có kế hoạch có chủ đích của người quản lý lên người bị quản lý một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm đạt được kế hoạch mục tiêu đề ra” Từ đó có thể rút ra một số bản chất cơ bản của quản lý như sau: Quản lý là hoạt động rộng khắp các mặt của đời sống xã hội loài người, đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều khiển mọi hoạt động lao động của con người và là phạm trù tồn tại khách quan- đó chính là tính tất yếu của lịch sử. Quản lý là cách thức tồn tại duy nhất để đạt được mục tiêu chung có chủ địch của một nhóm người, một tổ chức, một cơ quan ha nói rộng hơn là một nhà nước Lao động của hoạt động quản lý là một trong những điều tiên quyết làm cho xã hội loài người vận hành, tồn tại và phát triển. Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm nhiều thành phần bao quanh hoạt động đó Chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đề ra mục tiêu, dẫn dắt, điều khiển các đối tường quản lý để đạt mục tiêu. Khách thể quản lý (đối tượng quản lý) là:những con người được hình thành có tổ chức theo hướng tập thể hoặc tồn tại dưới hình thức của một xã hội thu nhỏ Mục tiêu quản lý được thực hiện chung cho cả chủ thể quản lý và đối tượng được quản lý đó chính là những căn cứ cơ bản để chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý với đối tượng được quản lý để thực hiện nhiệm vụ chung, mục tiêu chung.
Mục tiêu của quản lý GV là tạo dựng một môi trường mà trong đó mỗi thành viên có thể hoàn thành dược mục đích, nhiệm vụ của mình, của nhóm với các giới hạn về thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của cá nhân ít nhất. Chức năng của quản lý Chức năng cơ bản của hoạt động quản lý là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Các chức năng nà luôn song hành cùng nhau trong công tác 11 quản lý đòi hỏi người quản lý phải có những sáng suốt khi thực hiện các chức năng nà sao cho hiệu quả tốt nhất Chức năng kế hoạch: đ là chức năng tương đối quan trọng của người quản lý- đó là việc xây dựng được mục tiêu; chương tr nh hoạt động cụ thể là điều kiện tiên quyết cho việc đưa ra nhưng qu ết định quan trọng của quản lý. Các hoạt động cần được thực hiện một cách chủ động khoa học và sáng tạo.
Ở chức năng nà người quản lý cần ác định những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định để đưa ra nhưng qu ết định sáng suốt trong công tác quản lý trong nhà trường Việc lập kế hoạch là thực hiện những bước đi cho các hoạt động và hành động đón đầu trong tương lai gần vào khoảng thời gian nhất định và cho phép Lập kế hoạch có hai cấp: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Tuy nhiên, sự phân định kế hoạch vĩ mô ha vi mô tù theo điều kiện, hoàn cảnh và theo thời gian cụ thể. Lập kế hoạch cần thực hiện theo các bước: Bước1: Nhận thức đầy đủ về yêu cầu của công việc cần thực hiện; Bước 2: Phân tích trạng thái xuất phát của đối tượng quản lý; Bước 3: Xác định nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch Đ là điều kiện làm cho kế hoạch khả thi; Bước 4: Xây dựng sơ đồ kế hoạch chung cho việc lập kế hoạch. Việc lập kế hoạch tốt sẽ giúp nhà QLGD có khả năng ứng phó với sự bất định, sự tha đổi của hiện thực và cho phép nhà quản lý tập trung chú ý vào các mục tiêu để tìm ra cách tốt nhất, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức để đạt được mục tiêu và giúp họ dễ dàng kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện.
Thông thường chức năng tổ chức, kiểm tra, đánh giá là chức năng thứ hai trong một quá trình quản lý Tu nhiên, trong lĩnh vực quản lý nói chung và hoạt động QLGD nói riêng thì chức năng tổ chức (hay công tác tổ chức) lại là h u đầu tiên của một quá trình quản lý. Nội dung của chức năng tổ chức trong hoạt động QLGD bao gồm: Một là, xây dựng tổ chức bộ máy của đơn vị hoặc của hệ thống tương ứng với khách thể quản lý. Hai là, xây dựng và phát triển đội ngũ: qu hoạch đội ngũ; tu ển dụng nhân sự; bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý; thuyên chuyển, đề bạt cán bộ, GV; kiểm tra đánh giá cán bộ, GV,. 12 Ba là, ác định cơ chế quản lý: bao gồm thiết chế quản lý và các chế độ quy phạm cho việc thực hiện quá trình quản lý các hoạt động GD nhằm đạt tới các mục tiêu.
Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục có nội hàm rộng hay hẹp phụ thuộc vào cách hiểu từ “giáo dục” trong đó như thế nào. Nếu ta hiểu “giáo dục” là các hoạt động tác động đến thế hệ trẻ diễn ra trong các nhà trường nói riêng và xã hội nói chung th “quản lý giáo dục” là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội, và lúc đó “quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa rộng nhất. Còn nếu chúng ta chỉ nói đến các hoạt động giáo dục có tổ chức, có hệ thống trong ngành giáo dục đào tạo, diễn ra trong các cơ sở giáo dục đào tạo là nói đến quản lý nhà trường và quản lý một hệ thống các cơ sở giáo dục đào tạo ở một địa phận hành chính, huyện, tỉnh, đó là “quản lý một hệ thống giáo dục” Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục. Theo M I ônđacốp: “QLGD là tác động có kế hoạch, có hệ thống có ý thức của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả hệ thống giáo dục nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em” [27,tr.
Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục là hoạt động quản lý có sự phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [07,tr. Theo tác giả Đỗ Ngọc Đạt cho rằng: “Quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục” [10]. Đến những thời điểm này với sứ mệnh phát triển giáo dục không chỉ giới hạn ở việc giáo dục cho mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội mà trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ. Chính v điều đó nên QLGD được hiểu là sự điều hành trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng trong hệ thống GD quốc dân đó chính là hệ 13 thống các tác động đều có mục đích, có kế hoạch, hợp với qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm mục tiêu quản lý được thực hiện theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đản.