Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP – GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Dạy nghề và quản lý đào tao nghề trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu. Ở các nước tư bản như Đức, các tác giả như D.Germer, Heinz Frakiewicz đã đưa ra những cơ sở sư phạm đối với việc tổ chức quản lý hoạt động dạy học nghề nghiệp.
Các tác giả đã rất quan tâm tới sự phối hợp chặt chẽ giữa dạy lý luận và luyện tập kỹ năng, kỹ thuật trong thực tiễn sản xuất. Các hệ thống dạy nghề và nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp xuất hiện ở nhiều quốc gia khác như Pháp, Mỹ, Thụy Điển, Phần Lan,… trong đó đều đề cập tới quản lý đối với các thành phần cơ bản tạo nên quá trình đào tạo nghề ở các cơ sở giáo dục. Trong cuốn Giáo dục kỹ thuật và đào tạo thế kỷ XXI: Các khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế và tổ chức giáo dục, Khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc, John Daniel và Goran Hultin đã đề cập tới mối quan hệ gắn bó giữa mục tiêu phát triển đào tạo nghề với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; giữa đào tạo với sự biến động của thị trường lao động; sự cần thiết phải thiết lập một cơ cấu giáo dục mở và linh hoạt. Các tác giả đã khẳng định rằng, trong nền kinh tế thị trường, hoạt động quản lý liên quan tới thiết kế chính sách về đào tạo nghề cần lưu tâm tới mối quan hệ hợp tác giữa nhà nước, người sử dụng lao động và nhà sản xuất (Nguyễn Hải Long, 2015).
Do đặc điểm, yêu cầu về nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật ở mỗi nước có khác nhau nên không chỉ có lĩnh vực đào tạo nghề mà cả phương pháp đào tạo nghề, hình thức đào tạo nghề, quy mô đào tạo nghề cũng có sự khác nhau, song đều có điểm chung là đều chú trọng đến phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp. Do sớm có hệ thống đào tạo nghề nên các nước tư bản đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong quá trình đào tạo. Quá trình đào tạo nghề, dạy nghề cũng như quá 7 trình quản lý đào tạo nghề, dạy nghề liên tục được hoàn thiện, đổi mới để đảm bảo chất lượng đào tạo, chất lượng dạy nghề, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Cho đến ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ thuật nghề bên cạnh bậc phổ thông và đào tạo bậc cao đẳng, đại học (Nguyễn Hải Long, 2015).
- Ở Cộng hòa liên bang Đức, hệ thống đào tạo nghề là sự kết hợp giữa việc học trong một môi trường có sự gần gũi với thực tế sản xuất của công ty và một có sở có năng lực chuyên môn về sư phạm dạy nghề của các trường nghề. Theo đó, các công ty tập trung vào việc cung cấp các kiến thức kỹ năng thực tế, đặc biệt là kiến thức và kỹ năng phù hợp với công nghệ sản xuất của công ty; còn nhà trường cung cấp khối kiến thức về lý thuyết cơ bản nhiều hơn. Do phát triển trên hai nền tảng kết hợp như vậy, nên hệ thống đào tạo nghề này còn gọi là hệ thống đào tạo nghề kép. Bộ luật đào tạo nghề năm 1969 áp dụng ở Cộng hòa liên bang Đức được coi là nền tảng cơ bản của sự phát triển hệ thống đào tạo nghề kép.
Bộ luật này đã đưa ra các điều lệ chi tiết và tích cực, nhấn mạnh trách nhiệm của xã hội đối với việc đào tạo nghề. Đồng thời bảo đảm cho các nhóm xã hội quan tâm đến đào tạo nghề, chủ yếu giới chủ sử dụng lao động và người lao động, có ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến hệ thống đào tạo nghề và khả năng tổ chức đào tạo của đất nước. Ngoài ra, Bộ luật này còn là cơ sở pháp lý cho hệ thống đào tạo kép thành hệ thống tiêu chuẩn chất lượng nghề chủ chốt ở Cộng hòa liên bang Đức (Phạm Thị Nga, 2014). Ở Nhật Bản, đối với phát triển kinh tế các vùng nông thôn, Nhật Bản cũng rất thành công khi triển khai mô hình: “Mỗi làng một sản phẩm”.
Phong trào “mỗi làng một sản phẩm”ở tỉnh Oita của Nhật bản đã thực sự thu hút được sự quan tâm và học hỏi ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia, Indonesia. Việt Nam cũng học hỏi và triển khai nhưng ở quy mô thí điểm. Mỗi địa phương tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển. Có thể là sản phẩm như Nấm Shitake; Sản phẩm từ sữa bò, hàng gỗ mỹ nghệ ở thị trấn YuJuincam; Cá khô làng Yonouzu; Chè, măng tươi ở làng Natkatsu.
Trong 20 năm kể từ năm 1979 - 1999, phong trào mỗi làng một sản phẩm đã tạo ra được 329 sản phẩm với tổng doanh thu là 141 tỷ yên (Phạm Thị Nga, 2014). 8 Ở Hàn Quốc, từ giữa thập kỷ 60. Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra kế hoạch đào tạo trên cơ sở kế hoạch nhân lực, nhờ vậy đầu tư sức người và của cải tập trung để hướng học sinh trung học theo nhánh đào tạo nghề và công nhân kỹ thuật. Một số môn học nghề được đưa vào học trong chương trình trung học cơ sở, tuy nhiên chuyên môn hoá theo ngành đào tạo chỉ được thực hiện ở cấp trung học bậc trên.
Khoảng một phần ba số học sinh theo học trung học bậc cao lựa chọn trung học nghề còn hai phần ba theo chương trình trung học phổ thông. Các chuyên ngành được lựa chọn nhiều nhất trong trung học nghề là kỹ thuật và thương mại. Bên cạnh các trường nghề trung học dành cho đào tạo nghề ban đầu ở Hàn Quốc còn phát triển mạnh mẽ các trung tâm dạy nghề và đào tạo lại. Cả nước có khoảng 90 trung tâm như vậy và đào tạo nghề ở đây chủ yếu giới hạn ở các khoá ngắn hạn đào tạo các kỹ năng hành nghề trực tiếp.
Phần lớn chi phí cho các trung tâm này được nhà nước hỗ trợ, nhưng các học viên vẫn phải đóng học phí cho các khoá học này. Đồng thời chính phủ Hàn Quốc còn khuyến khích mạnh mẽ các công ty thực hiện đào tạo tại CSSX nhằm giảm chi phí (Nguyễn Văn Hưởng). Ở Đài Loan, hệ thống giáo dục được phân thành 2 luồng rất rõ rệt, sau trung học cơ sở thì chỉ khoảng 20% vào học hệ thống giáo dục phổ thông còn lại 80% sẽ vào hệ thống giáo dục nghề nghiệp (Nguyễn Văn Hưởng). Ở Indonesia, những năm gần đây Chính phủ nước này đã quyết định giảm dần tỉ lệ học sinh sau trung học cơ sở vào trung học phổ thông và tăng dần tỉ lệ học sinh sau trung học vào học nghề.
Năm 2007 tỉ lệ học sinh sau trung học phổ thông chỉ còn 57% và 43% tham gia vào học nghề (Nguyễn Văn Hưởng). Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, ĐTN nói chung và quản lý hoạt động ĐTN nói riêng là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Hiện nay, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về ĐTN nói chung và ĐTN cho LĐNT nói riêng. Luận án tiến sĩ " Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của tác giả Nguyễn Văn Đại năm 2010 đã hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về ĐTN cho LĐNT theo yêu cầu chuyển đổi kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị 9 trường; luận án đã đánh giá thực trạng ĐTN cho LĐNT, đánh giá tác động của kết quả đào tạo đến chất lượng LĐNT vùng đồng bằng sông Hồng; tìm ra những hạn chế và đề xuất những quan điểm, phương hướng, giải pháp đẩy mạnh ĐTN cho LĐNT vùng Đồng bằng sông Hồng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thời kỳ CNH – HĐH đến năm 2020.
Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu việc làm qua đào tạo nghề ở Việt Nam” của tác giả Bùi Tôn Hiến năm 2010 đã đi sâu nghiên cứu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về việc làm của lao động qua ĐTN, tìm hiểu những vấn đề chủ yếu về việc của lao động qua ĐTN và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển việc làm qua ĐTN ở Việt Nam. Luận văn thạc sĩ "Quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Trung tâm dạy nghề huyện Yên Phong - Bắc Ninh" của tác giả Phạm Thị Nga năm 2014 đã tập trung nghiên cứu hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về quản lí đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tìm hiểu về thực trạng công tác quản lí ĐTN cho LĐNT và đề xuất biện pháp quản lí ĐTN cho LĐNT tại Trung tâm Dạy nghề huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ” của tác giả Nguyễn Đức Thu năm 2017 đã tập trung nghiên cứu hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về quản lí hoạt động dạy nghề tại Trung tâm GDNN – GDTX cấp huyện, tìm hiểu thực trạng và đề xuất biện pháp quản lí hoạt động dạy nghề cho LĐNT tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Luận văn thạc sĩ “Hoạt động đào tạo nghề gắn với phát triển bền vững cho lao động nông thôn tại Trung tâm dạy nghề huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau” của tác giả Lê Văn Út năm 2015 đã tập trung nghiên cứu hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về hoạt động dạy nghề cho LĐNT, tìm hiểu thực trạng ĐTN cho LĐNT và đề xuất giải pháp hoạt động ĐTN gắn với phát triển bền vững cho LĐNT tại Trung tâm Dạy nghề huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Luận văn thạc sĩ “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang” của tác giả Phạm Thị Tuyến năm 2015 đã tập trung nghiên cứu hệ thống 10 hóa một số vấn đề lí luận về ĐTN cho LĐNT, tìm hiểu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển ĐTN cho LĐNT huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy, ở Việt Nam, công tác đào tạo nghề cho người lao động có nhiều bước phát triển các ngành nghề đào tạo được đa dạng hóa.