Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐÔNG ĐÀO TẠO NGHỀ KẾ TOÁN THEO TIỂP CẬN NĂNG LỰC THỰC HIỆN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP 1. Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về đào tạo và quản lý hoạt động đào tạo nghề ở nước ngoài Giáo dục, trong đó Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) bao giờ cũng là yếu tố quan trọng đối với việc cung cấp và phát triển nhân lực lao động của quốc gia đó cả về kinh tế và xã hội. Dù quốc gia đó thuộc các nước phát triến hay các nước đang phát triển, cơ cấu chính trị kiểu Tư bản chủ nghĩa (TBCN) hay Xã hội chủ nghĩa (XHCN) thì tầm quan trọng của giáo dục đặc biệt là GDNN được khẳng định trong xã hội, đó là: không một xã hội nào có thể tồn tại mà không có lao động sản xuất.
Trong lao động sản xuất, người lao động biến kiến thức, kỹ năng mà giáo dục nghề nghiệp cung cấp để sản xuất ra những sản phẩm phục vụ xã hội. Trên thế giới hiện nay, các nước đang ở mức độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thì sự phát triển mức độ GDNN cũng khác nhau với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Đặc biệt, một số nước đạt nhiều thành công trong lĩnh vực đào tạo nghề như CHLB Đức, Hàn Quốc, Úc. đã có nghiên cứu điển hình của một số tác giả như: - Vargas Zuniga, F., (2004) trong cuốn “Quality management in vocational training” [35] đã viết về quản lý việc đào tạo nghề.
Tác giả nghiên cứu những đặc điểm và khuynh hướng quản lý chất lượng đang thể hiện trong đào tạo nghề. Tác giả đề cập đến những quan niệm về quản lý chất lượng và đào tạo nghề, những tiêu chuẩn đánh giá và vấn đề đánh giá chất lượng. Tác giả đưa ra các ứng dụng của các tiêu chuẩn chất lượng, phản ánh những kinh nghiệm, động cơ của những người trong và ngoài cơ sở đào tạo nghề đang tiếp xúc với quá trình này và vai trò của việc quản lý trong quá trình đào tạo nghề, Tác giả cho rằng, để đào tạo nghề có chất lượng thi cần có hệ thống quản lý tốt, thực hiện tốt các quy trình, tiêu chuẩn và các chức năng quản lý.Moelleman, (1993), trong cuốn “Thông tin chuyên đề hệ thống đào tạo kép ở CHLB Đức” [37] đã giới thiệu về cơ cấu tổ chức của hệ thống đào tạo 6 nghề, quy chế đào tạo và chương trình giảng dạy của các trường nghề ở Đức. Tác giả đánh giá một số đặc điểm của mô hình đào tạo nghề đã mang lại thành công cho CHLB Đức trong lĩnh vực đào tạo nghề trong đó nhấn mạnh yếu tố đào tạo theo nhu câu, gắn đào tạo với thực tiễn, vai trò của các tổ chức sản xuất trong việc đào tạo nghề.
- Các tác giả Roger Harris, Hugh Guthrie, Barry Hobart, David Lundbering, (1997) “Competency-based education and training” [30] viết về quan niệm đào tạo theo năng lực thực hiện, dạy nghề dựa trên năng lực thực hiện được cấu trúc theo mô đun, được xây dựng dựa trên mục tiêu thực hiện công việc của nghề và dạy nghề dựa theo khả năng tiếp thu của người học nghề để đạt đến trình độ thành thạo. Chương trình dạy nghề dựa trên năng lực còn tạo điều kiện cho người học nghề lựa chọn các khoá học phù hợp với khả năng, điều kiện kinh tế, thời gian, hoàn cảnh sống. để học và hành nghề mà không phụ thuộc vào việc phải học tất cả các kỹ năng nghề. Trong tài liệu còn giới thiệu về tiêu chuẩn, thiết kế chương trình, phát triến các quy trình quản lý và đánh giá năng lực người học.
Nhìn chung có rất nhiều công trình nghiên cứu về công tác quản lý đào tạo nghề. Những nghiên cứu đó đã làm nổi rõ tầm quan trọng của một quy trình quản lý đào tạo nghề tốt với chất lượng đào tạo nghề. Nhiều công trình đã phân tích các chức năng quản lý ứng dụng vào công tác quản lý đào tạo nghề, chỉ rõ người quản lý cần biết cách lập kế hoạch đào tạo nghề dựa trên nhu cầu của xã hội như thế nào, làm thế nào để quản lý việc thực hiện chương trình đào tạo, kiểm tra đánh giá giáo viên (GV) và người học như thế nào để khuyến khích sự sáng tạo và đam mê của người dạy và người học. Kinh nghiệm các nước cho thấy chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào quy trình quản lý, từ việc hoạch định chính sách cho đến việc tạo ra cơ chế, quy trình quản lý đến việc giám sát, kiểm tra trong quá trình quản lý.
Quản lý là yếu tố sinh ra chất lượng của các yếu tố trên và tạo ra sự gắn kết các yêu tố đó lại với nhau hướng vào mục tiêu chung thúc đẩy quá trình đảm bảo chất lượng. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật trong những thập niên cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX tạo ra áp lực đòi hỏi phải gia tăng năng suất lao động. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy để có lực lượng lao động tương thích 7 với đặc điểm của kinh tế xã hội đương đại nền giáo dục phải hướng tới đào tạo con người có năng lực sáng tạo trên nên tảng học vấn vững chắc. Đứng trước áp lực đó, các nhà giáo dục phải suy nghĩ về việc dạy và học như thế nào cho có hiệu quả để đáp ứng yêu cầu của sản xuất.
Người ta cho rằng, để nâng cao chất lượng giáo dục cần phải dựa trên phân tích quá trình lao động để khám phá ra các quy tắc, những cách thức tốt nhất giúp cho việc học ngày càng hiệu quả hơn. Theo Taylor: “Phải phân tích xem trong một công việc có bao nhiêu thành tố cơ bản, có bao nhiêu thao tác và dạy những công việc đó trong một thời gian nhất định, không dạy hết những công việc mà chỉ dạy những công việc nào thường xuất hiện nhiều nhất, tần suất công việc cao nhất, công việc nào ít sử dụng thì không dạy” [18]. Đến những năm 20 của thế kỷ XX do yêu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ và thương mại nên tư tưởng cải cách đào tạo nghề đã xuất hiện ở một số nước công nghiệp phát triển. Người ta nhận thấy rằng, đào tạo truyền thống theo hệ bài - lớp - khóa học niên chế nhiều khi đã không đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Nhiều nơi, nhiều ngành đã thực hiện nguyên tắc “cần gì học nấy” không nhất thiết phải học hoàn chỉnh một nghề. Người học có nhu cầu đến đâu thì học đến đó không qui định cứng nhắc về thời gian học tập. Đến 1970 ở Bắc Mỹ, đào tạo theo năng lực đã được chấp nhận và vận dụng một cách phổ biến. Đào tạo, theo cách này, không dùng thời gian quy định cho khóa học mà dùng lượng kiến thức, kỹ năng theo tiêu chuẩn chuyên môn đã được quy định (Standard of Profession) cho một nghề làm đơn vị đo.
Thời gian này, hầu hết các nhà nghiên cứu Bắc Mỹ đã thừa nhận rằng “giáo dục, đào tạo dựa trên năng lực có gốc rễ trong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên” Cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 ở Mỹ và Canada, giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực thực hiện được ứng dụng rộng rãi trong GDNN. Bộ Giáo dục Mỹ đã thành lập một tổ chức liên kết quốc gia các trung tâm giáo dục dựa trên năng lực. Tuy nhiên, “cho đến những năm đầu thập kỷ 80 vẫn chưa đưa ra một định nghĩa về đào tạo dựa trên năng lực cũng như các tiêu chí của chương trình đào tạo dựa trên năng lực được mọi người chấp nhận” [29].Blank đã cho xuất bản tài liệu “Sổ tay phát triển chương trình đào tạo dựa trên năng lực” [36], cuốn sách đã đề cập những vấn đề cơ bản của giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực, phân tích nghề và phân tích nhu cầu người học, xây dựng hồ sơ năng lực người học, phát triển công cụ đánh giá sự hiểu biết và sự thực hiện, phát triển các gói học tập, cải tiến và quản lý chương trình đào tạo. Tài liệu nghiên cứu của ông được ứng dụng rộng rãi và mang lại kết quả to lớn trong đào tạo nghề ở Mỹ vào những năm 1985 của thế kỷ XX.
Các tiếp cận năng lực đã phát triển mạnh mẽ trong những năm 1990 với hàng loạt các tổ chức có tầm cỡ ở Mỹ, Anh, Úc,. Các tiêu chuẩn năng lực được xây dựng nhằm đáp ứng các yêu cầu về chính trị, kinh tế và như là cách để chuẩn bị lực lượng lao động cho nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu. Rất nhiều học giả và các nhà thực hành phát triển nguồn nhân lực xem tiếp cận này là cách hiệu quả nhất để giúp cho giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu tại nơi làm việc và là cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu. Những người chuyên làm công tác đào tạo và phát triển đang sử dụng mô hình năng lực để xác định một cách rõ ràng những năng lực cụ thể của từng tổ chức và cá nhân để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ và thống nhất các khả năng của cá nhân với năng lực cốt lõi của tổ chức.
Các nhà hoạch định chính sách đang sử dụng mô hình năng lực như là phương tiện để xác định một cách rõ ràng và để gắn két giữa những đòi hỏi của thực tiễn với các chương trình giáo dục và đào tạo. Burke đã xuất bản tài liệu “Giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực” [31], trong tài liệu này tác giả đã trình bày nguồn gốc của giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực, quan niệm về năng lực và tiêu chuẩn năng lực, về vấn đề đánh giá dựa trên năng lực và cải tiến chương trình đào tạo dựa trên năng lực. Năm 1995, tác giả Shirley Fletcher viết cuốn “Các kỹ thuật đánh giá dựa trên năng lực thực hiện” [33], trong đó phân tích sự khác biệt về đào tạo theo năng lực ở Anh và Mỹ, các nguyên tắc và thực hành đánh giá theo tiêu chuẩn, mục tiêu và sử dụng đánh giá dựa trên năng lực, việc thiết lập các tiêu chí cho sự thực hiện, thu thập bằng chứng cho đánh giá năng lực. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đánh giá dựa trên năng lực, một khâu của quá trình dạy học.