Chương 1: Là giới thiệu về vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Luận văn sẽ trình bày cơ sở lý thuyết, lịch sử nghiên cứu vấn đề nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế, từ đó đưa ra khung phân tích cho luận văn. Chương 3: Luận văn trình bày các vấn đề của nợ nước ngoài và quản lý nợ ở Việt Nam hiện nay, để thấy được thực trạng nợ, từ đó đưa ra hướng giải pháp hợp lý trong Chương 5. Chương 4: Luận văn sẽ tiến hành phân tích tác động của nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế dựa trên kết quả của mô hình thực nghiệm, kết hợp với phân tích định tính.
Đồng thời, luận văn sẽ tìm ra ngưỡng nợ tích cực đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, và phân tích mối quan hệ giữa tham nhũng với ngưỡng nợ nước ngoài. Chương 5: Luận văn sẽ đưa ra các kết luận và gợi ý chính sách dựa trên các phân tích ở Chương 3 và Chương 4. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- CHƯƠNG 2. Lý thuyết về nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế 2.
Nợ nước ngoài 2. Khái niệm Nợ nước ngoài của quốc gia là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính Phủ, nợ được Chính Phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theo phương thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam. (Quốc Hội, 2009) Khái niệm trên gần như tương đồng với khái niệm của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF, 2003), tức là tổng nợ nước ngoài tại một thời điểm gồm số tiền của các con nợ trong nền kinh tế với các tác nhân không cư trú tại quốc gia đó, bao gồm các khoản nợ gốc và lãi của con nợ tại một thời điểm. Phân loại nợ nước ngoài Luận văn sử dụng cách phân loại nợ của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế để phù hợp hơn trong quá trình phân tích số liệu.
x Phân loại nợ nước ngoài theo thời hạn các khoản nợ Cách phân loại nợ theo thời hạn các khoản nợ rất phù hợp về mặt thống kê. Trong nợ nước ngoài có nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, tín dụng IMF3. Nợ ngắn hạn là khoản nợ dưới một năm, và ngược lại nợ dài hạn là các khoản nợ có thời hạn trên một năm.1: Các thành phần của nợ nước ngoài theo thời hạn nợ Tổng nợ nước ngoài Nợ ngắn hạn Nợ dài hạn Tín dụng của IMF Nguồn: Hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới (WB, 2012) x Phân loại theo chủ thể đi vay Chủ thể trong nước đi vay những chủ thể bên ngoài quốc gia bao gồm tư nhân và Chính Phủ, trong đó Chính Phủ có thể không trực tiếp đi vay mà thông qua bảo lãnh. 3 Quyền rút vốn đặc biệt (SDRs: Special Drawing Rights) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Các thành phần của nợ nước ngoài phân theo chủ thể đi vay Tổng nợ nước ngoài (Gross external debt) Nợ của khu vực công Nợ của tư nhân với với nước ngoài nước ngoài Nợ của Chính Phủ bảo lãnh Nợ của Chính Phủ Nguồn: Luật Quản lý nợ (Quốc Hội, 2009), Ngân hàng Thế giới (WB, 2012) x Phân loại nợ nước người theo chủ nợ Các chủ thể trong nước có thể vay nước ngoài thông qua một tổ chức công (chủ nợ chính thức), hoặc là tư nhân.
Trong chủ nợ chính thức, các tổ chức trong nước có thể vay theo hiệp định đa phương (WB, IMF, hay ngân hàng khu vực…) hay song phương giữa 2 quốc gia. Ngoài phương thức vay qua các tổ chức chính thức, các chủ thể trong nước có thể vay tư nhân ở nước ngoài bằng cách phát hành trái phiếu hay kêu gọi đầu tư tư nhân.3: Các thành phần nợ nước ngoài phân theo chủ nợ Tổng nợ nước ngoài (Gross external debt) Chủ nợ chính thức (official creditors) Chủ nợ tư nhân (private creditors) Ngân hàng Đa phương Song phương Trái phiếu Khác thương mại Nguồn: Hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới (WB, 2012) 2. Đánh giá an toàn của nợ nước ngoài đối với quốc gia bằng ngưỡng nợ tích cực cho tăng trưởng Ngưỡng nợ nước ngoài tích cực cho tăng trưởng kinh tế là mức nợ tối đa mà nền Các tiêu chí an toàn của nợ nước ngoài đối với một quốc gia, được các tổ chức có uy tín trong lĩnh vực tài chính xây dựng, nhằm mục đích xác định mức độ nghiêm trọng của nợ nước ngoài đối vơi hệ thống tài chính và tăng trưởng kinh tế từ đó đưa ra các khuyến cáo hữu ích đối với các quốc gia đó. Hiện tại có rất nhiều phương pháp đánh giá mức độ an TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- toàn của nợ nước ngoài, trong đó có bộ tiêu chí DSF (DSF: debt sustainability framework).
Khuôn khổ nợ bền vững (DSF) được thiết kế để hướng dẫn các nước có thu nhập thấp quyết định vay mượn một cách phù hợp dựa trên nhu cầu và khả năng trả nợ ở hiện tại lẫn tương lai. DSF dựa vào chỉ số (CPIA) để khuyến nghị ngưỡng nợ tối đa cho các quốc gia, thông qua công cụ giá trị hiện tại của dư nợ (debt stock) và dịch vụ trả nợ (debt service)4.1: Chỉ tiêu đo lường mức độ an toàn nợ nước ngoài Đo lường ngưỡng gánh nặng nợ theo DSF Giá trị hiện tại dư nợ nước Giá trị hiện tại dịch ngoài so với vụ trả nợ so với Xuất Thu ngân Xuất Thu ngân GDP khẩu sách khẩu sách Chính sách, thể chế kém (CPIA≤3) 100 30 200 15 18 Chính sách và thể chế ở mức trung 150 40 250 20 20 bình (3<CPIA≤4) Chính sách và thể chế tốt (CPIA>4) 200 50 300 25 22 Nguồn: Hướng dẫn của IMF (2003, 2011), Ngân hàng Thế giới (WB, 2006) Khuôn khổ nợ bền vững đã đề xuất ngưỡng nợ nước ngoài còn tốt cho tăng trưởng kinh tế ở nước đó dựa trên chất lượng quản trị và thể chế của quốc gia. Rõ ràng, nếu nợ nước ngoài vượt qua các mức được khuyến cáo sẽ tác động tiêu cực đến tăng trưởng và khả năng trả nợ của quốc gia đó. Nợ nước ngoài thường sử dụng hai tiêu chí để đo lường là: tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP, tỷ lệ nợ nước ngoài/xuất khẩu.
Ngoài ra, một số tổ chức quốc tế sử dụng thêm nhiều loại tiêu chí khác như: giá trị hiện tại của tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP, giá trị hiện tại của nợ nước ngoài/xuất khẩu, giá trị hiện tại của nợ nước ngoài/thu ngân sách, giá trị hiện tại của dịch vụ trả nợ/xuất khẩu, giá trị hiện tại của dịch vụ trả nợ/thu ngân sách, nợ nước ngoài so với dự trữ ngoại hối. Việc sử dụng các tiêu chí phải đồng bộ với từng mức ngưỡng nợ cho phép đối với quốc gia đó. Tăng trưởng kinh tế 4 Việt Nam có chính sách và thể chế ở mức trung bình (chỉ số CPIA ≤4) do đó ngưỡng nợ nước ngoài nên giữ ở mức thấp hơn 40%/GDP (Phụ lục 1) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng một cách bền vững của sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi lao động (Kuznets, 1971). Khái niệm của North và Thomas (1993) thì tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số.
Các chỉ số đo lường tăng trưởng kinh tế là tốc độ tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), thu nhập bình quân đầu người (GDP per capita). Tăng trưởng kinh tế trong dài hạn sẽ tạo ra tiến bộ về kinh tế xã hội ở đất nước. Đồng thời, cơ cấu kinh tế xã hội thay đổi theo hướng tiến bộ. Tăng trưởng kinh tế giúp Việt Nam nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, và đô thị hóa.
Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế còn tạo ra nhiều hàng hóa, chất lượng dịch vụ cải thiện, gia tăng năng lực và hiệu quả của nền kinh tế, từ đó tạo cơ sở cho tiến bộ xã hội. Phát triển và tăng trưởng kinh tế hiện đại đề cập đến thu nhập đầu người, không thể có phát triển bền vững nếu thiếu tăng trưởng kinh tế (Kuznets, 1971). Vì vậy, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để phát triển kinh tế. Ở nước đang phát triển như Việt Nam, nếu không có mức tăng trưởng cao và liên tục thì khó có thể cải thiện đời sống kinh tế xã hội của đất nước, và có thể tụt hậu xa so với thế giới.
Vậy, tăng trưởng kinh tế có vai trò cực kỳ quan trọng đối với đất nước, thế nên, việc nghiên cứu vấn đề nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế là cần thiết, qua đó làm cơ sở để đề xuất các chính sách phù hợp, giúp Việt Nam tăng trưởng cao và bền vững. Khung lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Luận văn dựa trên lý thuyết nợ quá mức về mối quan hệ phi tuyến giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết nợ quá mức được sử dụng trong tài chính quốc tế bởi 2 nhà kinh tế Sachs (1989) và Krugman (1988) khi nghiên cứu về cuộc khủng hoảng nợ. Lý thuyết này cho rằng, nếu đất nước đi vay nợ nước ngoài một cách hợp lý sẽ tạo động lực tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi.
Tuy nhiên mức nợ tích lũy cao sẽ nguy hại đến tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết “debt overhang” cho rằng nếu mức nợ cao vượt quá tới hạn nhất định sẽ làm rò rỉ một lượng vốn để trả nợ, mà điều này làm giảm đầu tư. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư lo ngại nợ quá mức sẽ buộc Chính Phủ phải tăng thuế trong tương lai, nên ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, vì vậy nó tác động đến tâm lý đầu tư hiện tại. Nợ quá mức cũng ảnh hưởng đến hoạt động cải cách bộ máy của Chính Phủ, đặc biệt là tác động đến sự ổn định tài chính công.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- Đường cong Laffer giảm nợ (Krugman, 1988) Hình 2.4: Đường Laffer giảm nợ 450 Khả năng trả nợ R L C D Tổng nợ quốc gia O Nguồn: Tác giả vẽ lại từ mô hình của P.4 thể hiện: trục hoành là giá trị danh nghĩa của các khoản nợ của một quốc gia, trục tung là các khoản thanh toán nợ dự kiến thực tế. Ở mức nợ danh nghĩa thấp, quốc gia dự kiến có thể trả nợ đầy đủ, khả năng trả nợ được biểu diễn trên đường 450. Ở mức nợ cao hơn, quốc gia có thể không thanh toán được nợ, do đó việc thanh toán nợ dự kiến nằm dưới đường 450. Tại một thời điểm, giả sử tại L, khả năng thanh toán được nợ được biếu diễn bằng độ dốc của đường nối gốc tọa độ với điểm L.