Phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt Nam - Luận văn Thạc sĩ của Lưu Hồng Hạnh

Luận văn Thạc sĩ phân tích thực trạng, nhu cầu và đề xuất giải pháp phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt Nam, tập trung vào nợ xấu, nợ tồn đọng.

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2014

123
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Thị Trường Mua Bán Nợ Việt Nam Khởi Đầu

Thị trường mua bán nợ Việt Nam đang nổi lên như một công cụ quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề tài chính của doanh nghiệp và ngân hàng. Theo TS. Võ Trí Thành, hoạt động này đã diễn ra từ những năm 1990 song song với quá trình xử lý nợ của các ngân hàng. Bắt đầu từ Ban chỉ đạo thanh toán công nợ TP.HCM năm 1990, thị trường từng bước phát triển với sự ra đời của các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của các NHTM vào năm 2000. Tuy nhiên, giai đoạn này còn nhiều hạn chế, chủ yếu tập trung vào các khoản nợ của tổ chức tín dụng. Đến năm 2003, sự ra đời của DATC đánh dấu bước ngoặt quan trọng, mở rộng phạm vi hoạt động sang mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, đặc biệt là DNNN. Năm 2007, Nghị định 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ tiếp tục củng cố thị trường. Gần đây nhất, năm 2013, VAMC ra đời với mục tiêu giải quyết nợ xấu đang tồn đọng trong hệ thống ngân hàng. Mặc dù vậy, thị trường vẫn còn sơ khai, thiếu khung pháp lý hoàn thiện và nhân lực chuyên nghiệp.

1.1. Giai đoạn hình thành và phát triển ban đầu

Thị trường mua bán nợ Việt Nam bắt đầu manh nha từ những năm 1990. Ban chỉ đạo thanh toán công nợ TP.HCM được thành lập với nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc việc thanh toán nợ nần giữa các đơn vị kinh tế. Đến năm 2000, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 305/2000/QĐ-NHNN5 về việc thành lập Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thế chấp của NHTM. Các công ty này có nhiệm vụ mua bán các khoản nợ mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay, chưa được phép mở rộng hoạt động sang lĩnh vực mua bán nợ của DN, tổ chức và cá nhân trong xã hội.

1.2. Vai trò của DATC trong thị trường

Năm 2003, Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) trực thuộc Bộ Tài chính ra đời. DATC có mục đích hỗ trợ các DNNN lành mạnh hoá tình hình tài chính thông qua các hoạt động mua bán nợ và tài sản tồn đọng. DATC đã thực hiện 136 phương án mua bán nợ theo hình thức thỏa thuận và chỉ định để xử lý tài chính tái cơ cấu DN và thu hồi nợ. Giá trị sổ sách của các khoản nợ là 10.172,9 tỷ đồng, giá vốn mua nợ là 2.996,6 tỷ đồng, thu hồi được 3.172,2 tỷ đồng, đạt tỷ lệ thu hồi 106%.

1.3. Thành lập VAMC và kỳ vọng

Năm 2013, Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được thành lập và hoạt động. VAMC ra đời với trọng tâm là giải quyết nợ xấu đang tồn đọng trong hệ thống ngân hàng. Đến 31/12/2013, VAMC đã mua gần 39.000 tỷ đồng dư nợ gốc của 35 tổ chức tín dụng, tương đương 32.400 tỷ đồng giá trị trái phiếu đặc biệt, vượt kế hoạch 35.000 tỷ đồng được giao. Năm 2014, VAMC lên kế hoạch mua nợ từ 70.000 tỷ đồng bằng trái phiếu đặc biệt.

II. Thực Trạng Thị Trường Mua Bán Nợ Cơ Hội Hạn Chế

Thực tế, thị trường mua bán nợ tại Việt Nam còn nhiều bất cập. Môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, thiếu các quy định cụ thể và đồng bộ. Nguồn cung và cầu chưa gặp nhau do thông tin không minh bạch, thiếu các tổ chức trung gian chuyên nghiệp. Các chủ thể tham gia thị trường còn hạn chế về số lượng và năng lực. Việc định giá nợ và quản lý rủi ro còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, thị trường cũng có nhiều tiềm năng phát triển do nhu cầu xử lý nợ xấu ngày càng tăng, sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, và những nỗ lực của Chính phủ trong việc hoàn thiện khung pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường phát triển.

2.1. Môi trường pháp lý điều chỉnh hoạt động mua bán nợ

Hiện nay, hoạt động mua bán nợ bị chi phối bởi các văn bản pháp lý có liên quan như Quyết định 59/2006/QĐ-NHNN ngày 21/12/2006 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành, quy định quy chế mua, bán nợ của các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, các văn bản này còn thiếu các quy định cụ thể, đồng bộ và chưa bao quát hết các khía cạnh của hoạt động mua bán nợ.

2.2. Nhu cầu bán nợ ngày càng gia tăng

Theo tiến trình phát triển kinh tế thị trường ở VN đến năm 2020, chúng ta sẽ tăng số lượng DN với khoảng 1.000 DN, quy mô DN sẽ tăng lên, thị trường SXKD không phải chỉ trong nước mà phải ra thị trường toàn cầu. Do tình hình SXKD này càng phức tạp, đòi hỏi các DN phải có tầm nhìn chiến lược tốt, đòi hỏi phải có năng lực tốt điều hành SXKD nếu không nguy cơ rủi ro cao, sẽ nảy sinh nhiều DN có nhu cầu bán các khoản nợ và tài sản “nguồn cung” sẽ rất nhiều và đa dạng.

2.3. Quá trình mua nợ bắt đầu tăng

Thị trường mua bán nợ đang bắt đầu chứng kiến sự gia tăng về số lượng các giao dịch mua nợ. Nhiều tổ chức mua bán nợ của các NHTM đã xúc tiến giao dịch để giải quyết nợ xấu của các DN nhằm cứu DN và ổn định “sức khỏe” cho chính NH cho vay. VAMC cũng đã thực hiện nhiều vụ mua bán nợ từ các Ngân hàng như Agribank, SHB, PGBank và SCB.

III. Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Mua Bán Nợ Hiệu Quả

Để phát triển thị trường mua bán nợ Việt Nam một cách bền vững và hiệu quả, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía Nhà nước, các tổ chức tài chính và doanh nghiệp. Cần hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao tính minh bạch của thị trường, phát triển các tổ chức trung gian chuyên nghiệp, tăng cường năng lực định giá và quản lý rủi ro, và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia thị trường. Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về vai trò của thị trường mua bán nợ trong việc tái cơ cấu và phục hồi hoạt động kinh doanh.

3.1. Hoàn thiện khung pháp lý

Cần có một khung pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ, bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia thị trường, quy trình mua bán nợ, định giá nợ, quản lý rủi ro, và giải quyết tranh chấp. Khung pháp lý cần phù hợp với thông lệ quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch mua bán nợ.

3.2. Nâng cao tính minh bạch và thông tin

Cần xây dựng hệ thống thông tin về thị trường mua bán nợ, bao gồm thông tin về các khoản nợ đang được chào bán, giá cả, và các điều kiện giao dịch. Hệ thống thông tin cần được công khai, minh bạch và dễ dàng tiếp cận cho tất cả các bên tham gia thị trường.

3.3. Phát triển các tổ chức trung gian

Cần khuyến khích sự phát triển của các tổ chức trung gian chuyên nghiệp như công ty môi giới, công ty tư vấn, công ty định giá, và công ty quản lý tài sản. Các tổ chức trung gian này sẽ giúp kết nối người mua và người bán, cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, và đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của các giao dịch mua bán nợ.

IV. Kinh Nghiệm Quốc Tế và Bài Học Cho Thị Trường Việt Nam

Nhiều quốc gia trên thế giới đã có kinh nghiệm thành công trong việc phát triển thị trường mua bán nợ, như Mỹ, Hàn Quốc, Malaysia, và Australia. Những kinh nghiệm này có thể cung cấp những bài học quý giá cho Việt Nam. Cần học hỏi kinh nghiệm về xây dựng khung pháp lý, thành lập các tổ chức quản lý tài sản, và áp dụng các phương pháp xử lý nợ hiệu quả. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý điều chỉnh các kinh nghiệm này cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

4.1. Kinh nghiệm từ Mỹ

Theo ông Sanjay Kalra đại diện của Quỹ Tiền tệ IMF tại VN, với Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính phố Wall năm 2008 bắt nguồn từ bong bóng bất động sản, tình cảnh khá tương đồng với VN hiện nay. Để giải cứu những TCTD sắp "chết", Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) quyết định bơm 700 tỉ USD. Lượng tiền này được phân bổ một phần để mua lại nợ xấu NHTM, một phần dùng để giải quyết thanh khoản tạm thời cho những đơn vị yếu kém.

4.2. Kinh nghiệm từ Hàn Quốc

KAMCO vốn là một công ty quản lý tài sản nợ thuộc NH phát triển Hàn Quốc (KDB), tháng 8/1997 được Chính phủ Hàn Quốc cho phép mua bán nợ xấu của toàn bộ hệ thống tín dụng, nhằm đối phó với tình trạng nợ xấu nước này tăng mạnh từ cuối năm 1997. Cơ chế hoạt động của KAMCO là mua nợ tồn đọng theo chính sách của Chính phủ, chủ yếu thực hiện theo yêu cầu, chỉ định của Bộ Tài chính- Kinh tế Hàn Quốc.

4.3. Kinh nghiệm từ Malaysia

Giải pháp chính phủ Malaysia đã thực hiện để giải quyết nợ xấu chính là thành lập một công ty mua bán nợ quốc gia, một công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước. Ngoài ra, Malaysia còn đưa ra kế hoạch sáp nhập 58 tổ chức tài chính vào 6 nhóm. Kế hoạch này được sự hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương Malaysia và được thực hiện dựa trên những cam kết với WTO trong lĩnh vực tài chính.

V. Tác Động của Thị Trường Mua Bán Nợ Đến Kinh Tế VN

Thị trường mua bán nợ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Nó giúp giải quyết nợ xấu, giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng, và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái cơ cấu và phục hồi hoạt động kinh doanh. Thị trường cũng góp phần tăng cường tính minh bạch và hiệu quả của hệ thống tài chính, và thu hút vốn đầu tư từ trong và ngoài nước.

5.1. Giải quyết nợ xấu cho TCTD

Thị trường mua bán nợ giúp các TCTD loại bỏ các khoản nợ xấu khỏi bảng cân đối kế toán, làm sạch tài sản và cải thiện khả năng sinh lời. Việc giảm thiểu nợ xấu giúp các TCTD tăng cường khả năng cho vay và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

5.2. Tái cơ cấu doanh nghiệp

Thị trường mua bán nợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp bán các khoản nợ khó đòi để có vốn tái đầu tư và phục hồi hoạt động kinh doanh. Việc tái cơ cấu giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường khả năng cạnh tranh.

5.3. Thu hút vốn đầu tư

Thị trường mua bán nợ thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia mua các khoản nợ, cung cấp nguồn vốn cho thị trường và thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức tài chính trung gian.

VI. Tương Lai Thị Trường Mua Bán Nợ Hướng Đến Chuyên Nghiệp

Thị trường mua bán nợ Việt Nam đang trên đà phát triển và có nhiều tiềm năng để trở thành một thị trường chuyên nghiệp và hiệu quả. Cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao tính minh bạch, phát triển các tổ chức trung gian chuyên nghiệp, và tăng cường năng lực định giá và quản lý rủi ro. Với sự nỗ lực của tất cả các bên liên quan, thị trường mua bán nợ sẽ đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam.

6.1. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý

Cần tiếp tục sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến thị trường mua bán nợ để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của thị trường.

6.2. Nâng cao năng lực của các tổ chức

Cần nâng cao năng lực của các tổ chức quản lý tài sản, công ty môi giới, công ty tư vấn, và công ty định giá để cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp và chất lượng cao cho thị trường mua bán nợ.

6.3. Tăng cường hợp tác quốc tế

Cần tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức tài chính và các nước có kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ để học hỏi kinh nghiệm và thu hút vốn đầu tư.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển thị trường mua bán nợ tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ 1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ 1.1 Khái niệm mua bán nợ Trong tiếng anh hoạt động mua bán nợ được gọi là ‘’factoring’’. Từ “factor” bắt nguồn từ “factare” trong tiếng Latinh, có nghĩa là “thực hiện” hay “làm”. Công cụ tài chính này xuất hiện từ thế kỷ 18 trước Công nguyên ở Babilonia dưới thời vua Hammurabi và là một phần của những giao dịch mua bán vải vóc trên con đường tơ lụa năm xưa. Khái niệm mua bán nợ phát triển liên tục và ngày nay đã trở nên quen thuộc trong kinh doanh, thương mại, tài chính ngân hàng hay xuất nhập khẩu.

Theo từ điển kinh tế (Dictionary of Economic – Christopher Pass & Bryan Lones): “Mua bán nợ là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ - factor firm) mua lại các khoản nợ của một công ty với số tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của số nợ đã mua và giá mua thực tế của món nợ đó. Lợi ích của công ty bán nợ là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả nợ, hơn nữa lại tránh được những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm trả”. Theo từ điển thuật ngữ Ngân hàng – Hans Klaus thì “Mua bán nợ là một loại hình tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển nhượng nợ.

Một công ty chuyển toàn bộ hay một phần khoản nợ cho một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ, thông thường là một công ty trực thuộc ngân hàng). Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõi các khoản phải thu để hưởng thủ tục phí và có lúc ứng trước các khoản nợ. Thông thường, công ty mua nợ phải chịu rủi ro mất khả năng thanh toán của món nợ”. download by : skknchat@gmail.com 2 Tiến sĩ kinh tế Edward W.

Reed và Edward K. Gill cho rằng: “Mua bán nợ là việc mua lại các khoản nợ. Các công ty mua nợ mua các khoản nợ của khách hàng trên cơ sở không truy đòi và tiến hành một số dịch vụ khác ngoài việc ứng trước các khoản nợ. Công ty mua nợ đánh giá mức tín dụng trong hiện tại và tương lai của khách hàng (người bán) và xác lập các hạn mức tín dụng ứng trước.

Các khách hàng được yêu cầu gửi trực tiếp cho công ty mua nợ bản sao hoá đơn. Khoản ứng trước thường từ 80% - 90% trị giá hoá đơn. Khoản dự trữ 10% - 20% được công ty mua nợ giữ lại để phòng ngừa hàng trả lại, hàng giao thiếu, hoặc các yêu cầu khác của người mua. Thường thường vào cuối tháng, công ty mua nợ tính toán mức phí thu được trên số dư trên các khoản nợ chưa thu và cấp thêm vốn cho khách hàng”.

Qua các khái niệm về mua bán nợ trên đây, chúng ta có thể hiểu: Mua bán nợ là việc chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ khoản nợ trên cơ sở hợp đồng mua, bán nợ, trong đó bên bán nợ chuyển giao quyền chủ nợ tương ứng cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ. Bên mua nợ đảm bảo việc thu nợ, tránh các rủi ro về không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của người mua. Bên mua nợ có thể trả trước thời hạn toàn bộ hay một phần các khoản nợ của người mua cùng với một khoản hoa hồng tài trợ và phí thu nợ. Mọi rủi ro không thu được đều do người tài trợ gánh chịu.

Từ đó hình thành một quan hệ tài chính liên quan tới ba bên gồm bên mua nợ (ngân hàng, tổ chức tài chính, công ty mua nợ), người bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ và người mua hàng hoá hay nhận dịch vụ. Ngoài ra, hoạt động mua bán nợ có thể biến hoá thành một số dịch vụ phụ như quản lý tài khoản phải thu của khách hàng, cung cấp các thông tin kinh tế, tiền tệ, tín dụng và thương mại nhằm tăng thu và giữ tốt mối quan hệ bạn hàng lâu dài.2 Sự ra đời của hoạt động mua bán nợ Trong thời đại ngày nay, kinh doanh ngày một phát triển kéo theo sự đa dạng cũng như mức độ phức tạp của mối quan hệ Ngân hàng - Người vay. Không một doanh download by : skknchat@gmail.com 3 nghiệp nào tránh khỏi những khoản nợ phát sinh, và điều này đã trở thành một yếu tố tất nhiên trong các hoạt động kinh doanh thường nhật của doanh nghiệp. Các công ty có thể vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình, nhưng vào lúc đó thì tình trạng nợ khó đòi đã trở thành một vấn đề nan giải đối với nhiều doanh nghiệp chủ nợ.

Nhiều công ty đang phải đối mặt với mức độ rủi ro tín dụng rất cao, trong đó rủi ro về tổn thất nợ khó đòi là một trong những nhân tố cần được kiểm soát chặt chẽ. Không ít trường hợp, tổn thất do các khoản nợ bị "ngâm" của các công ty liên tục gia tăng, làm suy giảm năng lực cạnh tranh, thậm chí dẫn tới nguy cơ phá sản. Khó khăn nào cũng sẽ có hướng giải quyết. Trong bối cảnh đó, hoạt động mua bán nợ trở thành vị cứu tinh khi nó có thể giải quyết được tình trạng bế tắc về nợ nần, giúp công ty chủ nợ thu hồi vốn để hoạt động.

Thường thì trước những khoản nợ xấu khó có khả năng thu hồi được vốn đa số thường nghĩ rằng sẽ bị mất trắng khoản tiền này, may ra thì cũng chỉ thu hồi được một chút nhưng không đáng kể. Vậy nhưng những khoản nợ đó lại đang trở thành những cơ hội làm ăn của một loại hình kinh doanh đặc biệt “Mua bán nợ”.3 Các phương thức mua bán nợ Các bên mua bán nợ được lựa chọn một trong hai phương thức sau:  Phương thức mua bán nợ thông qua đấu giá các khoản nợ thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.  Phương thức mua bán nợ thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán nợ và bên mua nợ hoặc thông qua môi giới. Trong việc mua bán nợ này, giá mua nợ, bán nợ là do các bên thỏa thuận trực tiếp hoặc thông qua bên môi giới.

Riêng đối với các khoản nợ thuộc nhóm 1 theo quy định hiện hành của cơ quan chủ quản về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng thì giá mua, bán download by : skknchat@gmail.com 4 nợ không được thấp hơn giá trị khoản nợ được mua, bán. Đồng thời, giá mua bán nợ là giá mua cao nhất trong trường hợp khoản nợ được bán theo phương thức đấu giá.4 Nguyên tắc mua bán nợ Bảo đảm công khai, minh bạch và phản ánh đúng thực trạng khoản nợ. Các bên liên quan đến giao dịch mua, bán nợ phải tự chịu trách nhiệm trong các quyết định liên quan đến giao dịch mua, bán nợ. Đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phù hợp với quy định của pháp luật.

Đảm bảo sự thỏa thuận và tự nguyện giữa bên mua nợ và bên bán nợ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia mua, bán nợ. Việc chuyển giao khoản nợ được mua, bán được tiến hành đồng thời với việc chuyển giao các nghĩa vụ của bên nợ và các bên có liên quan đến khoản nợ (kể cả các quyền gắn liền với các bảo đảm cho khoản nợ) từ bên bán nợ sang bên mua nợ. Việc mua bán nợ có liên quan tới các tổ chức, cá nhân nước ngoài và thanh toán bằng ngoại tệ thì các bên mua, bán nợ phải chấp hành các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý ngoại hối và các quy định liên quan khác của pháp luật. Một khoản nợ có thể được bán một phần hoặc toàn bộ, bán cho nhiều bên mua nợ và có thể được mua bán nhiều lần.

Trường hợp mua, bán nợ lại các khoản nợ đã được mua, bán, thì mỗi lần mua, bán đều phải lập và ký kết hợp đồng mua, bán nợ.5 Các bước trong một quá trình thực hiện mua bán nợ Không có một quá trình cụ thể cho một hoạt động mua bán nợ vì quá trình thực hiện này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: bản chất của giao dịch, hoạt động kinh doanh của bên mua và bên bán và các yếu tố khác, cần phải được xem xét từ khía cạnh download by : skknchat@gmail.com 5 của luật cạnh tranh (như các vấn đề liên quan đến tập trung kinh tế) và luật chứng khoán (nghĩa vụ công bố thông tin). Khi xem xét các bước trong từng giai đoạn của quá trình mua bán nợ, nhìn dưới góc độ của người mua và người bán, thì cần phải hiểu được mong đợi của cả người mua và người bán khi tham tham gia vào quá trình này:  Với người bán: Ưu tiên chính là bán nợ và bán cho người mua có khả năng tiếp tục duy trì hoạt động của DN một cách hiệu quả nhất, tạo ra những khoản đầu tư phù hợp với công việc kinh doanh và giữ được nguồn nhân lực hiện có.  Với người mua: Ngoài lý do chiến lược, còn là để mua nợ với mức giá đúng với giá trị của nó, mức giá này giúp bên mua tạo ra lợi nhuận trong dài hạn cho một khoản đầu tư chiến lược hoặc trong ngắn hạn cho một khoản đầu tư tài chính. Do đó, bên mua luôn quan tâm đến việc làm thế nào để giảm đi những thông tin bất cân xứng giữa người mua và người bán, và gia tăng tính minh bạch cho toàn bộ quá trình.

Mục tiêu của hoạt động mua bán nợ là tối thiểu hóa tổn thất rủi ro do các khoản nợ quá hạn mang lại, kinh doanh thu lợi nhuận và thực hiện các mục tiêu xã hội. Do hoạt động mua bán nợ còn khá mới mẻ ở VN, nên việc xây dựng một quy trình mua bán nợ gặp khá nhiều khó khăn, làm sao cho quy trình có thể phù hợp với thực tế ở VN, sau đây là 3 giai đoạn cơ bản trong hoạt động mua bán nợ:  Hoạt động mua nợ: Hàng hóa của các công ty mua bán nợ chủ yếu là các khoản nợ có vấn để của các ngân hàng và tài sản tồn đọng của DN bao gồm cả tài sản và quyền sử dụng đất được sử dụng để bảo đảm cho các khoản nợ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ