Chương 1 CƠ SỞ LÍ -LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Văn nghị luận * Khái niệm Theo từ điển thuật ngữ văn học thì: “Bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó là nghị luận luận lí”. Cuốn “Kĩ năng làm văn nghị luận” của Nguyễn Quốc Siêu có đưa ra định nghĩa về văn nghị luận như sau: “Văn nghị luận là loại văn chương nghị luận thuyết lí, bởi vậy còn gọi là văn thuyết lí, văn luận lí, văn luận thuyết, văn biện luận v.v… Nó lấy nghị luận làm cách thức biểu đạt chủ yếu, thông qua các phương thức lôgic như khái niệm, phán đoán, suy luận để trực tiếp bày tỏ nhận thức của con người đối với toàn bộ thế giới”. [18] Một cách khác ta có thể trình bày hàm nghĩa của văn nghị luận như sau: “Văn nghị luận là loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân tích lí lẽ.
Nó là tên gọi chung một thể loại văn vận dụng các hình thức tư duy lôgic như khái niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí lẽ, phân biệt đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với khách quan và quy luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương, ý kiến, quan điểm của tác giả”.6] Văn nghị luận trong cuộc sống thường ngày ta thường tiếp xúc và vận dụng, nhà mĩ học Chu Quang Tiềm có nói: “Nêu sự thật, trình bày lí lẽ đã trở thành hoạt động xã hội ngày càng phổ biến, ngày càng quan trọng trong đời sống chúng ta. Họp thảo luận phải thuyết lí, làm báo cáo phải thuyết lí, viết xã luận phải thuyết lí, soạn sách giáo khoa cũng phải thuyết lí… Tóm lại phàm là ở những chỗ phải động não, phàm là ở những nơi phải biện hộ cho mình, thuyết phục người khác, không thể không thuyết lí”. Muốn hoàn thành nhiệm vụ thuyết lí đó, ngoài cách phát biểu bằng miệng, chủ yếu phải viết thành văn bản nghị luận. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.TS Đỗ Ngọc Thống trong cuốn “Làm văn” cho rằng: “ Văn nghị luận là một thể văn phản ánh rõ nhất đời sống tinh thần, tư tưởng, ý chí và khát vọng của cả một dân tộc.
Nói một cách khái quát văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống… nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục…” [21, tr.12] Trong SGK Ngữ Văn lớp 7, tập hai có viết về văn nghị luận như sau: “Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một quan điểm, tư tưởng nào đó”. 38] Như vậy, đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn nghị luận, song các định nghĩa trên đều có chung một điểm thống nhất là cho rằng: Văn nghị luận là thể văn người viết dùng những lí lẽ, dẫn chứng chính xác, lập luận chặt chẽ, lôgic để kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ, thuyết phục người đọc, người nghe tin vào vấn đề mình trình bày đồng thời thể hiện quan điểm, tư tưởng, lập trường, thái độ của người viết đối với vấn đề được trình bày. * Vị trí, vai trò của văn nghị luận PGS.TS Đỗ Ngọc Thống trong cuốn “Làm văn từ lí thuyết đến thực hành” cho rằng: “Cùng với việc hình thành và phát triển óc quan sát, trí tưởng tượng (tư duy hình tượng) của nhóm bài văn sáng tác, văn nghị luận đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tư duy lôgic cho học sinh. Để làm sáng tỏ và thuyết phục được người đọc về một vấn đề nào đó của cuộc sống và văn học, lôi kéo họ đồng tình với mình, người viết bài nghị luận phải thực hiện hàng loạt các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, trìu tượng hóa, so sánh, đối chiếu … cũng như hàng loạt các thao tác nghị luận như: giải thích, chứng minh, bình luận … Không những thế hàng loạt kĩ năng còn được vận dụng để giải quyết vấn đề trong bài văn nghị luận như: phân tích đề, lập ý, dàn ý, huy động kiến thức, lập luận, trình bày, viết đoạn văn, viết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn câu, dùng từ … Bài văn nghị luận lại là kết quả tổng hợp của nhiều kiến thức liên ngành như: văn học, ngôn ngữ học, triết học, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, sân khấu, điện ảnh …[21] Ngoài ra, vốn sống, vốn kinh nghiệm xã hội, sự từng trải, và tư tưởng, lập trường chính trị cũng góp phần quan trọng vào kết quả bài viết nghị luận.
Không phải ngẫu nhiên mà Phan Kế Bích (1875-1921), trong cuốn “Việt Hán văn khảo” (1918) luận về phép làm văn cho rằng: “Nghị luận phải cần có kiến thức cao xa, có tưởng rộng rãi thì văn mới hay, chứ nói những ý tứ nông nổi hẹp hòi thì là văn chương tầm thường”. Võ Thúc Khanh nêu 24 điều cốt yếu của phép làm văn thì điều số 8 có ghi: “Văn chương nghị luận do ở kiến thức mà ra. Kiến thức cao thì nghị luận cũng cao, kiến thức thấp thì nghị luận cũng thấp”. Với đặc trưng là tính lôgic, chặt chẽ nhưng văn nghị luận vẫn rất cần màu sắc chủ quan (tình cảm).
Nhưng bài văn nghị luận hay, không chỉ thuyết phục người nghe bằng lí, bằng ý mà còn lôi cuốn người đọc bằng tình cảm chân thực, xúc động. 18] Cuốn “Làm văn” của các tác giả Đình Cao - Lê A có viết: “Trong nhà trường, việc rèn luyện viết văn nghị luận là yêu cầu rất trọng yếu trong quá trình học tập bộ môn văn học. Văn nghị luận giúp học sinh tập vận dụng tổng hợp các tri thức văn học, tri thức xã hội và đời sống vào việc làm văn, rèn luyện kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ và đặc biệt giúp đắc lực vào việc tư duy khoa học, tư duy lí luận ở họ. Những đề bài nghị luận đặt ra những vấn đề tư tưởng và học thuật đòi hỏi học sinh phải huy động những hiểu biết lí luận và thực tiễn để giải quyết, nhằm xây dựng cho họ một phương pháp tư tưởng khoa học để có nhận thức đúng và thái độ đúng trước những vấn đề bàn luận, cũng tức là giúp học sinh có sự chuẩn bị cần thiết để tiến tới những hành động đúng đắn, tích cực và sáng tạo trong đời sống hiện tại và tương lai.
Tóm lại tập làm văn nghị luận góp phần đắc lực vào việc phát triển trí tuệ và nhân cách của người học sinh XHCN. 84-85] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Như vậy ta có thể thấy rằng văn nghị luận có vai trò rất quan trọng trong dạy học. Một mặt nó kích thích sự hình thành và phát triển các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, trừu tượng hóa, so sánh, đối chiếu… các thao tác nghị luận: giải thích, chứng minh, bình luận… Mặt khác nó lại yêu cầu HS phải huy động vốn kiến thức của mình từ nhiều lĩnh vực khác nhau để hoàn thiện bài viết sao cho bài viết thật hay, thuyết phục và chân thực đồng thời nó góp phần to lớn trong việc phát triển trí tuệ và nhân cách cho học sinh. * Phân loại Văn nghị luận bao-gồm rất nhiều kiểu loại, điều này được quyết định bởi sự muôn màu muôn vẻ của hình thức vận động vật chất và sự đa dạng của thế giới.
Cũng chính vì vậy, chúng ta có thể phân loại văn nghị luận từ những giác độ khác nhau: - Phân loại theo nội dung phản ánh: chính luận, tư tưởng bình luận, văn nghệ bình luận, học thuật luận văn, quân sự bình luận, kinh tế bình luận, thời sự bình luận, thể dục bình luận v.v… - Phân loại theo-hình thức biểu hiện: tạp văn, tiểu luận, đoản bình, chuyên luận, tâm đắc, cảm nghĩ (sau khi đọc tác phẩm), tổng kết, điều tra, báo cáo, lời khai mạc, lời bế mạc, bài diễn văn, bài (viết chuẩn bị) nói, báo cáo, lời- chúc mừng, lời cảm ơn v.v… - Phân loại theo giác độ phát biểu: xã luận, bài viết của bình luận viên, bài viết của quan sát viên, bài viết của ban biên tập, tuyên bố, tuyên ngôn, bài đứng tên v.v… - Phân loại theo tính chất luận đề: lập luận (luận chứng chứng minh) và bác luận (nghị luận phản bác hay luận chứng phản bác). Ngoài ra, dựa vào đề tài nghị luận, văn nghị luận được chia thành hai dạng: nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Đối tượng của nghị luận xã-hội là những vấn đề trong đời sống xã hội nên nghị luận xã hội được chia thành nghị luận về một tư tưởng đạo-lí và nghị luận về một hiện tượng đời-sống. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Còn đối tượng của nghị luận văn học chủ yếu là kiến thức văn học, các vấn đề về văn học, đời sống của con người được phản ánh vào trong văn học, các tác phẩm văn chương.
* Đặc trưng của văn nghị luận Đặc trưng chủ yếu của văn nghị luận được biểu hiện ở ba mặt sau: Thứ nhất, tính triết lí sâu sắc: Bất kể bài văn nghị luận nào cũng đều trình bày lí lẽ, không có lí thì không thành văn, thành văn là phải có lí. Nêu ra lí lẽ, giải thích rõ lí lẽ, tuyên truyền lí lẽ chính là tôn chỉ của nó. Cái lí trong văn nghị luận còn phải trình bày cho sâu sắc, thiết thực để có thể thực sự vạch ra bản chất của sự vật. Cho nên tính triết lí là nội hàm quan trọng của văn nghị luận.
Dù là một tác phẩm đồ sộ hay một bài viết ngắn đều phải hàm chứa những lí lẽ sâu sắc. Lí lẽ có thể lớn lao hay vụn vặt, nhưng đều có tính triết lí. Đặc trưng này biểu hiện trong văn chương là: cái lí quán xuyến toàn bộ và cái lí hệ thống toàn bộ. Thứ hai, tính biện luận mạnh mẽ: Cái lí phải đúng đắn, khoa học, thế nhưng nó không thể hiện tự rõ ràng, tự hiển hiện.
Muốn hiểu được cái lí, làm rõ cái lí, phát huy cái lí thì cần phải biện luận, phải trình bày, phải chứng minh. Bởi vậy, tính biện luận đã trở thành một đặc tính quan trọng của văn nghị luận. Luận là lập luận (nghị luận lập luận, luận chứng chứng minh), biện là bác luận (nghị luận phản bác, luận chứng phản bác).