CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 1. Khái quát chung về trang trại a. Trang trại Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về trang trại.
Hoàng Việt “Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất sản phẩm hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên qui mô diện tích ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [15].TS Đào Hữu Hòa, “Trang trại là đơn vị cơ sở sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình nông dân, được hình thành và phát triển từ khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dần thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Ngày nay, trang trại là loại hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp của hầu hết các quốc gia trên thế giới” [5]. Từ những quan điểm trên có thể đưa ra khái niệm về trang trại như sau: Trang trại là một tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp có mục đích là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn với phương thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [11]. Đặc trưng của trang trại - Mục tiêu chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản Luan van 9 hàng hoá với quy mô lớn theo nhu cầu của thị trường.
- Tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập. - Các yếu tố sản xuất, trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa. - Cách thức tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh trong trang trại ngày càng mang tính khoa học, chuyên nghiệp. - Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có hiểu biết nhất định về kinh doanh, thị trường.
Phân loại trang trại • Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trang trại được phân loại như sau: - Theo lĩnh vực sản xuất + Trang trại trồng trọt; + Trang trại chăn nuôi; + Trang trại lâm nghiệp; + Trang trại nuôi trồng thuỷ sản; + Trang trại tổng hợp. - Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong năm. Trường hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là trang trại tổng hợp [1]. Tiêu chí nhận dạng trang trại • Theo Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày Luan van 10 23/06/2000 và Thông tư liên tịch số 74/TTLT-BNN-TCTK ngày 20/05/2003 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và Tổng cục Thống kê quy định tiêu chí định lượng được xác định như sau: [7] - Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xác định là trang trại phải đạt được cả hai tiêu chí định lượng như sau: * Giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân 01 năm: + Các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên; + Các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên.
* Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. + Đối với trang trại trồng trọt - Trang trại trồng cây hàng năm Từ 02 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung; Từ 03 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên. - Trang trại trồng cây lâu năm Từ 03 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung; Từ 05 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên; Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên. - Trang trại lâm nghiệp Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước.
+ Đối với trang trại chăn nuôi - Chăn nuôi đại gia súc: Trâu, bò. Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên; Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên 50 con trở lên. - Chăn nuôi gia súc: Lợn, dê. Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với hơn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; Luan van 11 Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên.
- Chăn nuôi gia cầm: Gà, vịt, ngan, ngỗng. Có thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi). + Trang trại nuôi trồng thủy sản - Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 02 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 01 ha trở lên). + Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính chất đặc thù như: Trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản và thủy đặc sản, thì tiêu chí sác định là giá trị sản lượng hàng hóa (tiêu chí 01).
• Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định về tiêu chí chứng nhận kinh tế trang trại như sau [1]: * Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: + Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: Đạt từ 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; Đạt từ 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại. + Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm. * Cơ sở chăn nuôi đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1tỷ đồng/năm trở lên; * Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên [1]. Vai trò của trang trại trong phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm gần đây, kinh tế trang trại phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về ngành sản xuất.
Mặc dù mới được phát triển trong những Luan van 12 năm gần đây nhưng kinh tế trang trại đã thể hiện rõ vai trò quan trọng và phát triển một cách bền vững là sự kết hợp hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Vai trò đó được thể hiện ở những điểm cơ bản sau: • Về phát triển kinh tế - Trên cơ sở kết hợp hài hòa, hợp lý và khoa học các yếu tố đất đai, nguồn nước, lao động, khoa học và công nghệ; kinh tế trang trại làm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của nền nông nghiệp; góp phần thúc đẩy kinh tế toàn tỉnh tăng trưởng nhanh và bền vững, nâng cao khả năng thích ứng với những biến động thị trường hay những cú sốc kinh tế từ bên ngoài. - Đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng Tây Nguyên, tạo ra những vùng nguyên liệu hàng hóa, làm tiền đề thúc đẩy công nghiệp chế biến phát triển. - Kinh tế trang trại góp phần tham gia tích cực hơn vào chuỗi giá trị hàng hóa thế giới (cà phê, hồ tiêu, điều, cao su.), đẩy mạnh liên kết nội tỉnh và với các tỉnh khác, là nhân tố gắn kết với thị trường trong nước và thị trường thế giới.
- Phát triển kinh tế trang trại góp phần khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả, bền vững các nguồn lực phát triển kinh tế: Đất đai, nguồn nước, lao động và nguồn vốn. Để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, không ngừng nâng cao lợi nhuận các trang trại luôn coi trọng đầu tư ứng dụng thành tựu mới của khoa học công nghệ, đi đầu trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, đưa thiết bị, công nghệ tiên tiến (công nghệ sinh học.) vào sản xuất. • Về phát triển xã hội - Quá trình phát triển bền vững xã hội hướng tới thực hiện mục tiêu tiến Luan van 13 bộ và công bằng xã hội, thu hẹp chênh lệch giàu nghèo, xóa dần khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, mở rộng cơ hội công bằng tiếp cận các nguồn lực, việc làm và thu nhập cho mọi thành viên. Theo đó, phát triển kinh tế trang trại sẽ đóng góp vào quá trình phát triển bền vững xã hội của vùng trên những mặt sau: - Việc mở rộng đất đai, nguồn vốn để phát huy lợi thế về quy mô, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trang trại đã thu hút nhiều lao động nông thôn; mang lại thu nhập cho nhiều người lao động và nhất là người nghèo; góp phần cải thiện đời sống người lao động, giảm tỷ lệ nghèo.
Người lao động làm việc trong các trang trại được rèn luyện, đào tạo nâng cao kỹ năng làm việc, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Tây Nguyên. - Phát triển kinh tế trang trại gắn với hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung chuyên môn hóa; phát triển các cơ sở, các cụm công nghiệp chế biến đi liền với dịch vụ, thương mại và đô thị hóa, hình thành thị tứ, thị trấn; từ đó, thúc đẩy nông thôn phát triển, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn. - Phát triển kinh tế trang trại góp phần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng vùng nông thôn và quá trình xây dựng nông thôn mới ở Tây Nguyên. Kinh tế trang trại phát triển kéo theo kết cấu hạ tầng kỹ thuật như đường giao thông, điện, hệ thống thông tin và kết cấu hạ tầng xã hội: Trường học, trạm y tế, phát triển, làm thay đổi bộ mặt nông thôn Tây Nguyên, tạo điều kiện liên kết các địa phương của Tây Nguyên và với bên ngoài.