Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT 1. Đƣờng lối, chính sách của Đảng về bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Đất còn là yếu tố quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng.
Hơn nữa, dưới góc độ chính trị - pháp lý, đất đai còn là lãnh thổ quốc gia và gắn liền với chủ quyền quốc gia. Trong luật pháp quốc tế không thể có khái niệm quốc gia mà thiếu đi yếu tố đất đai - lãnh thổ quốc gia. Đối với một nước nông nghiệp như nước ta, đất đai lại càng có vai trò và tầm quan trọng đặc biệt. Nhận thức sâu sắc vấn đề này ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề đất đai.
Vấn đề này được ghi nhận trong các cương lĩnh, văn kiện của Đảng và được xác định là một yếu tố không thể thiếu được để tập hợp, đoàn kết, giác ngộ các tầng lớp quần chúng nhân dân đi theo Đảng làm cách mạng giải phóng dân tộc. Trong Luận cương Chính trị năm 1930, Đảng ta đã xác định: "coi "thổ địa cách mạng" (cách mạng ruộng đất) cùng với Cách mạng tư sản dân quyền là một trong hai mục tiêu chiến lược quan trọng của Cách mạng Việt Nam, với các nhiệm vụ cụ thể là: "đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, phong kiến, địa chủ, làm cho người cày có ruộng" [20, tr. Như vậy ngay từ khi mới thành lập và chưa giành được chính quyền, Đảng ta vẫn luôn luôn coi trọng và bảo vệ quyền lợi về đất đai cho mọi người 6 dân nói chung và người nông dân nói riêng. Quan điểm này được thực hiện một cách nhất quán khi cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới: Giai đoạn phát triển kinh tế, kiến thiết đất nước.
Ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100/CT-TƯ về "Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp" với nội dung quan trọng là tổ chức tốt việc giao diện tích ruộng đất cho đội sản xuất, cho nhóm người lao động; khi diện tích giao khoán cho người lao động được phân bố hợp lý thì có thể ổn định trong vài năm để xã viên yên tâm thâm canh trên diện tích đó. Chính sách khoán và giao đất sử dụng ổn định đã từng bước đưa người lao động gắn bó chặt chẽ, lâu dài với đất đai và bước đầu động viên nông dân hăng hái lao động, sản xuất; đồng thời là "bước đầu quá trình xác lập địa vị làm chủ ruộng đất thực sự của người lao động" [66, tr. Tiếp đó, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 khởi xướng đã làm thay đổi căn bản về nội dung chính sách, pháp luật đất đai: đất đai từ chỗ do tập thể các hợp tác xã, các đơn vị, tổ chức của Nhà nước quản lý đã từng bước được giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Sự thay đổi tư duy của Đảng trong lĩnh vực đất đai được đánh dấu bằng sự kiện: Ngày 05/04/1988, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, trong đó khẳng định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp và giao khoán ruộng đất ổn định, lâu dài cho hộ nông dân.
Tiến trình đổi mới tư duy này được tiếp tục ghi nhận trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 và các Hội nghị Trung ương tiếp theo, đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (khóa VII, tháng 12/1991) và Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII, tháng 6/1992) đã khẳng định thực hiện nhất quán chủ trương: "Ruộng đất được giao cho nông dân sử dụng lâu dài; Nhà nước quy định bằng pháp luật việc thừa kế, chuyển quyền sử dụng ruộng đất". 7 Để phấn đấu thực hiện mục tiêu: đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra thì nước ta không thể không thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, muốn thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta phải giải quyết "bài toán" đất đai phục vụ cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp, cơ sở kinh tế thông qua thu hồi đất của người sử dụng đất (SDĐ). Nhận thức được vấn đề này, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX và các Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khóa VIII), Hội nghị Trung ương 7 (lần 2), Hội nghị Trung ương lần thứ 9 (khóa IX) đã khẳng định quan điểm của Đảng về vấn đề duy trì, củng cố chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đi đôi với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ; trong đó chú trọng thực hiện việc bồi thường cho người SDĐ khi Nhà nước thu hồi đất.
Đặc biệt, Nghị quyết số 26 ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đề ra những chính sách quan trọng về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, cụ thể: - Chính sách đất đai phải đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người SDĐ, trong đó cần chú trọng đúng mức lợi ích của Nhà nước, của xã hội; - Nhà nước có quyền thu hồi đất nông nghiệp được quy hoạch vào mục đích xây dựng đô thị, kết cấu hạ tầng; - Quy định rõ loại đất có liên quan đến quốc phòng, an ninh và có quy chế đặc biệt về quy hoạch sử dụng và giao loại đất này; - Cần thực hiện tổng hợp các biện pháp phát triển ngành nghề, đào tạo nghề để tạo việc làm; đổi mới cơ chế sản xuất nông nghiệp và những biện pháp hỗ trợ khác để giải quyết một cách cơ bản việc làm và thu nhập cho người nông dân có đất bị thu hồi để sử dụng vào mục đích công cộng, phát triển kinh tế - xã hội; 8 - Khi Nhà nước thu hồi đất của cá nhân hoặc tổ chức đang sử dụng hợp pháp để phục vụ các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển sản xuất - kinh doanh, Nhà nước thực hiện chế độ bồi thường, tái định cư, đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm. Nhà nước thu hồi không bồi thường đối với đất lấn chiếm, đất sử dụng không hiệu quả, không đúng mục đích; - Chính phủ quy định khung giá đất cho từng địa bàn, trong từng thời gian (có điều chỉnh theo tình hình thực tế) và nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất. Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định giá cụ thể làm căn cứ bồi thường khi thu hồi đất; - Phải lập và xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất đối với những dự án thu hồi đất đang sử dụng; đồng thời chú trọng đào tạo để chuyển đổi nghề cho lao động tái định cư. Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đào tạo việc làm theo nguyên tắc "bảo đảm cho người bị thu hồi đất đến chỗ ở mới có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ"; - Nhà nước có quy hoạch tổng thể về SDĐ trên địa bàn cả nước tạo điều kiện cho các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch triển khai đồng bộ việc bồi thường, tái định cư và hỗ trợ tạo việc làm khi thu hồi đất; - Phải chú ý phân chia hợp lý phần giá trị tăng thêm do việc quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng mang lại; đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người đang SDĐ hợp pháp bị thu hồi và lợi ích của Nhà đầu tư, trong đó phải chú trọng lợi ích của Nhà nước.
Chính sách điều tiết này được tiếp tục khẳng định tại Hội nghị Trung ương lần thứ 9 (khóa IX): "Thực hiện chính sách điều tiết để đảm bảo lợi ích của Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu và là Nhà đầu tư lớn nhất phát triển hạ tầng, làm tăng giá trị của đất" [25, tr. Như vậy, Nghị quyết số 26 Hội nghị Trung ương 7 (lần 2) khóa IX đã đề ra quan điểm, đường lối khá đầy đủ và toàn diện về việc bồi thường thiệt 9 hại khi Nhà nước thu hồi đất trong giai đoạn hiện nay. Quan điểm, đường lối này đã được Luật Đất đai năm 2003 thể chế hóa, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Cơ sở lý luận của việc bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất Nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề bồi thường cho người SDĐ khi Nhà nước thu hồi đất, chúng tôi nhận thấy chế định này được xây dựng và hình thành trên những cơ sở lý luận chủ yếu sau đây: Thứ nhất, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra dựa trên cơ sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ.
Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân về tài sản: "Quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm" (Điều 12). Quyền này tiếp tục được khẳng định trong bản Hiến pháp năm 1992: "Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân" (Điều 58). Hơn nữa, Hiến pháp năm 1992 còn long trọng tuyên bố: "Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa.
Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường…" (Điều 23).