Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số 62.07) với đề tài "Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam" được thực hiện tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Hữu Nghị. Công trình tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý lý luận và thực định, tập trung vào chế định thu hồi đất nông nghiệp trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi kinh tế.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sau ba mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất đai được xác định là nguồn vốn quan trọng, tư liệu sản xuất đặc biệt và là địa bàn phân bổ các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Tại Việt Nam, khoảng 70% dân số sống bằng nghề nông và gắn bó sinh kế cả đời với đất đai (dẫn theo Đỗ Mai Thành, 2015). Do đó, hoạt động thu hồi đất nông nghiệp trực tiếp làm đảo lộn sinh kế, tập quán canh tác và sinh hoạt của một cộng đồng dân cư lớn. Thực trạng khiếu nại trong lĩnh vực này rất phức tạp: báo cáo số 2280/BC-TTCP ngày 04/8/2010 của Thanh tra Chính phủ chỉ ra khoảng 80% số vụ khiếu nại, tố cáo liên quan đến quản lý và sử dụng đất, trọng tâm là thu hồi đất (dẫn theo Nguyễn Thanh Hải và Thảo Trang, 2014).
Khoảng trống nghiên cứu được xác lập từ thực tế: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, nhưng quyền sử dụng đất (QSDĐ) thuộc về các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Thu hồi đất nông nghiệp thực chất là việc tước bỏ quyền tài sản và tài sản của người sử dụng đất (NSDĐ). Mặc dù Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định việc thu hồi đất phải trong trường hợp thật cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, đồng thời phải công khai, minh bạch và bồi thường theo luật định, song các quy định trong Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn vẫn bộc lộ bất cập, chưa giải quyết dứt điểm các xung đột lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về thu hồi đất nông nghiệp, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NSDĐ nông nghiệp và các bên liên quan.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể qua ba nội dung:
- Nghiên cứu một số nội dung lý luận về thu hồi đất nông nghiệp: làm rõ khái niệm, vai trò của đất nông nghiệp; đặc điểm, khái niệm thu hồi đất nông nghiệp; cơ sở xây dựng và nội dung của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp; quá trình phát triển của pháp luật qua các thời kỳ lịch sử và kinh nghiệm của một số quốc gia.
- Phân tích thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về thu hồi đất nông nghiệp và thực tiễn áp dụng; chỉ ra kết quả đạt được cùng những bất cập, hạn chế.
- Xác định quan điểm, yêu cầu và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cùng các biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn cụ thể theo văn bản:
| Tiêu chí |
Nội dung xác định trong luận án |
| Đối tượng nghiên cứu |
- Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới chính sách, pháp luật đất đai. - Các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về thu hồi đất và đất nông nghiệp. - Hệ thống pháp luật đất đai hiện hành của Việt Nam và các văn bản liên quan. - Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp của Cộng hòa Pháp, Úc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. - Các số liệu, quyết định hành chính áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. |
| Phạm vi nội dung |
Tập trung vào 4 nhóm quy định: (1) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; (2) Nội dung, trình tự, thủ tục thu hồi đất nông nghiệp; (3) Bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp; (4) Khiếu nại khi thu hồi đất nông nghiệp. |
| Phạm vi loại trừ |
Luận án không nghiên cứu việc thu hồi các loại đất sau trong nhóm đất nông nghiệp: đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất làm muối. |
| Phạm vi thời gian và văn bản |
Khảo cứu hệ thống pháp luật qua các giai đoạn từ năm 1945 đến trước 01/7/2004, trọng tâm phân tích thực định là Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014) có so sánh đối chiếu với các bất cập tồn tại từ thời kỳ Luật Đất đai năm 2003 chưa được giải quyết. |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã phân loại và điểm luận một cách hệ thống các công trình nghiên cứu tiền nhiệm theo năm nhóm nội dung cốt lõi:
| Nhóm nội dung |
Tác giả, công trình và năm công bố |
Luận điểm và phát hiện chính được kế thừa |
| 1. Lý luận về chế độ sở hữu, QSDĐ và quyền tiếp cận thông tin |
- Lê Văn Tứ (1997) - Phạm Duy Nghĩa (2004, 2011) - Phan Văn Tân (2008) - Nguyễn Quang Tuyến (2009) - DEPOCEN, World Bank & DFID (2011) - Vũ Tiến Anh (2012) - Nguyễn Thùy Trang (2016) |
- Xác định QSDĐ vừa là khái niệm pháp lý vừa là khái niệm kinh tế, là tài sản của NSDĐ hợp pháp. - QSDĐ mang tính chất "sở hữu kép", "sở hữu đa tầng", là quyền tài sản tư quan trọng. - Xung đột đất đai thời kỳ đổi mới tập trung ở khu vực nông thôn; cần phân biệt rõ khái niệm "bồi thường" và "đền bù". - Thực trạng hạn chế trong việc công khai thông tin quản lý đất đai tại cấp huyện và xã. - Đề xuất thay thế tư duy "thu hồi", "cưỡng chế" bằng "trao đổi bình đẳng" và "đồng thuận". |
| 2. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (QH, KHSDĐ) |
- Phạm Hữu Nghị (2008) - Viện Chiến lược Chính sách TN&MT (2011) - Đặng Anh Quân (2012) - Lưu Quốc Thái (2015) |
- QH, KHSDĐ thiếu tính gắn kết, tính dự báo thấp và chịu ảnh hưởng của lợi ích cục bộ. - Đề xuất ban hành Luật Quy hoạch, kéo dài kỳ quy hoạch lên 25–50 năm, xem xét bỏ QH, KHSDĐ cấp huyện. - Cần bảo đảm quyền được thông tin, cơ chế lấy ý kiến người dân và quyền khiếu nại trong công tác quy hoạch. |
| 3. Nội dung, trình tự, thủ tục thu hồi đất nông nghiệp |
- Phan Trung Hiền (2008, 2011) - World Bank (2008) - Lưu Quốc Thái (2009, 2015) - Nguyễn Thị Nga (2010) - Trần Quang Huy và LEADCO - World Bank (2011) - Phạm Văn Võ (2012) - Đào Trung Chính (2014) - Nguyễn Quang Tuyến & Nguyễn Vĩnh Diện (2015) |
- Sự cần thiết hiến định và xây dựng đạo luật riêng về thu hồi đất vì mục đích công cộng. - Đất đai là tư liệu sinh kế duy nhất của hộ nông dân nghèo; thu hồi bản chất là việc Nhà nước tước quyền tài sản bằng quyết định hành chính. - Phân định ranh giới giữa chuyển dịch đất đai bắt buộc và chuyển dịch đất đai tự nguyện. - Hạn chế trong quy định thu hồi đất cho mục đích phát triển kinh tế giao cho doanh nghiệp tư nhân. - Bất cập trong các khâu: thông báo thu hồi, đo đạc, kiểm đếm chiếu lệ, thiếu đối thoại trực tiếp. |
| 4. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp |
- Lê Du Phong (2007) - Nguyễn Mạnh Hải & CIEM (2009) - Nguyễn Tấn Phát (2010) - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012) - Nguyễn Quang Tuyến & Đỗ Xuân Trọng (2012) - Phạm Thu Thủy (2014) - Phan Trung Hiền (2016) |
- Trên 73% lao động mất đất chưa qua đào tạo nghề; giá đất bồi thường theo bảng giá nhà nước thấp hơn thị trường. - Đề xuất thành lập Tòa án chuyên biệt giải quyết tranh chấp thu hồi đất. - Cơ chế điều tiết địa tô chênh lệch do chuyển đổi mục đích sử dụng đất tạo ra. - Thiệt hại đối với cây trồng không chỉ tính theo giá trị tại thời điểm bàn giao mà phải gắn với chu kỳ sản xuất nông nghiệp. |
| 5. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp |
- Trần Quang Huy (2010) - Phạm Văn Võ (2015) |
- Suất hỗ trợ bằng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cần có cam kết hạn chế chuyển nhượng trong 10 năm để tránh mất tư liệu sản xuất. - Hỗ trợ là trách nhiệm xuất phát từ thiện chí của Nhà nước để bảo đảm công bằng, nên chuyển từ bản vị lương thực sang tính theo mức lương tối thiểu. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Qua đánh giá tổng quan, tác giả chỉ ra các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào Luật Đất đai năm 2003, chỉ đi sâu vào khía cạnh bồi thường, hỗ trợ đơn lẻ hoặc vấn đề giá đất mà chưa giải quyết các nội dung cốt lõi:
- Chưa làm rõ bản chất pháp lý sâu xa của QSDĐ là quyền tài sản và việc thu hồi đất nông nghiệp chính là hành vi thu tài sản của NSDĐ trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân.
- Chưa đánh giá toàn diện các trường hợp thu hồi đất nông nghiệp với tư cách là căn cứ pháp lý trực tiếp làm phát sinh thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước.
- Chưa nghiên cứu cơ chế chia sẻ, cân bằng lợi ích tổng thể giữa ba chủ thể: Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi.
- Chưa luận giải đầy đủ trách nhiệm của Nhà nước trong vai trò đại diện chủ sở hữu thông qua chính sách hỗ trợ phục hồi sinh kế vượt ra ngoài nguyên tắc bồi thường ngang giá thông thường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án thiết lập 4 nhóm câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Về lý luận: Thu hồi đất nông nghiệp là gì và có những đặc trưng pháp lý nào?
- Về tác động xã hội và vai trò nhà nước: Nội dung của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp tác động như thế nào đến kinh tế - xã hội và các chủ thể liên quan? Vai trò đại diện chủ sở hữu của Nhà nước được thể hiện ra sao qua chính sách hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, việc làm?
- Về pháp luật thực định: Nội dung và thực tiễn áp dụng pháp luật thu hồi đất nông nghiệp hiện hành bộc lộ những vướng mắc, bất cập gì cần sửa đổi, bổ sung?
- Về phương hướng, giải pháp: Cần có các phương hướng và giải pháp cụ thể nào để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các quy phạm hiện hành nhằm hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp?
Giả thuyết nghiên cứu
Luận án được triển khai dựa trên các giả thuyết:
- Giả thuyết lý luận 1: Sự tác động của chế độ Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đất đai đối với việc thu hồi đất nông nghiệp chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ.
- Giả thuyết lý luận 2: Tính tất yếu khách quan phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với lĩnh vực này chưa được luận giải rõ ràng, hệ thống; chưa đánh giá toàn diện tác động của pháp luật thu hồi đất nông nghiệp đến các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai.
- Giả thuyết thực định: Các quy định trong Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập khi áp dụng vào điều kiện kinh tế - xã hội thực tế.
- Giả thuyết giải pháp: Dù Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 nhưng chưa khắc phục được các hạn chế của Luật Đất đai năm 2003, đòi hỏi phải kiến nghị giải pháp đồng bộ về lập pháp và thực thi.
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết liên ngành:
- Phương pháp luận triết học: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chính sách đất đai.
- Lý thuyết hạn chế quyền lực: Sử dụng để phân tích việc giới hạn thẩm quyền hành chính công của Nhà nước, ngăn ngừa sự tùy tiện và lạm quyền trong việc ban hành quyết định hành chính thu hồi đất.
- Lý thuyết vốn hóa thu nhập: Áp dụng trong việc phân tích các phương pháp định giá đất nông nghiệp nhằm xác định giá trị quyền sử dụng đất sát với giá trị kinh tế thực tế.
- Lý thuyết sinh lý thực vật: Được tác giả tích hợp để phân tích và đề xuất sửa đổi các quy định bồi thường tài sản cây trồng trên đất nông nghiệp theo các quy luật sinh học, tính toán đúng chu kỳ sinh trưởng và mức độ thiệt hại trong các dự án công trình thủy lợi, thủy điện.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu theo từng chương:
- Phương pháp hệ thống hóa, phân tích và tổng hợp: Được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận án để xử lý tài liệu, làm rõ cơ sở lý luận và đề xuất giải pháp.
- Phương pháp lịch sử: Phân tích sự tiến hóa của các quy định pháp luật thu hồi đất nông nghiệp từ năm 1945 qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 đến năm 2013.
- Phương pháp luật học so sánh: Nghiên cứu, đối chiếu kinh nghiệm lập pháp về thu hồi đất nông nghiệp của Cộng hòa Pháp (truất hữu vì lợi ích công cộng), Úc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (trưng thu, trưng dụng).
- Phương pháp thống kê, điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia: Sử dụng tại Chương 3 để đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật, xử lý số liệu khiếu nại, tố cáo và các quyết định hành chính thu hồi đất cụ thể.
- Nguồn tư liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành; báo cáo tổng kết của Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Báo cáo số 193/BC-TNMT năm 2012); tài liệu và dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về những vấn đề nghiên cứu của luận án
Chương này dành cho việc xác định không gian học thuật của đề tài. Tác giả tiến hành hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo từng mảng: sở hữu và quyền sử dụng đất, quy hoạch đất đai, cơ chế thu hồi, chính sách bồi thường và hỗ trợ. Tác giả phân tích điểm mạnh của các công trình trước, đồng thời chỉ ra khoảng trống về mặt lý luận chưa được giải quyết trong điều kiện áp dụng Luật Đất đai năm 2013. Từ đó, chương này thiết lập mục tiêu, 4 nhóm câu hỏi nghiên cứu, 4 giả thuyết nghiên cứu, xác định khung lý thuyết (hạn chế quyền lực, vốn hóa thu nhập, sinh lý thực vật) cùng phương pháp luận và kết cấu tổng thể của công trình.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về pháp luật thu hồi đất nông nghiệp
Chương 2 làm rõ nền tảng lý luận về đất nông nghiệp và bản chất pháp lý của hoạt động thu hồi đất nông nghiệp:
- Khái niệm và đặc điểm: Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế, gắn liền với việc làm và an sinh xã hội của đại bộ phận nông dân. Tác giả đưa ra định nghĩa mang tính học thuật: Thu hồi đất nông nghiệp là việc Nhà nước ban hành quyết định hành chính để thu tài sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp của người sử dụng đất hoặc thu lại đất nông nghiệp đã giao cho tổ chức, UBND cấp xã quản lý trong những trường hợp cụ thể; Nhà nước có trách nhiệm bồi thường giá trị thiệt hại và hỗ trợ nhằm bảo đảm cuộc sống cho người sử dụng đất theo quy định pháp luật.
- Đặc trưng pháp lý: Luận án nhấn mạnh 6 khía cạnh: (1) Việc định đoạt tài sản thể hiện bằng quyết định hành chính đơn phương của cơ quan có thẩm quyền; (2) Là quyền lực công đương nhiên của Nhà nước đại diện chủ sở hữu; (3) Quan hệ thu hồi đất không đơn thuần là trao đổi ngang giá mà đi kèm trách nhiệm hỗ trợ an sinh của Nhà nước; (4) Quyền năng của Nhà nước bị hạn chế bởi quyền tài sản của NSDĐ thông qua quyền khiếu nại, khởi kiện; (5) Phân biệt bản chất giữa thu hồi do vi phạm hành chính với các trường hợp khách quan; (6) Thu hồi đất nông nghiệp là thu hồi tư liệu sinh kế, đòi hỏi phải giải quyết việc làm và tái cơ cấu lao động.
- Lịch sử pháp luật: Khảo sát quá trình lập hiến từ Hiến pháp 1946 (bảo vệ quyền tư hữu), Hiến pháp 1959 và 1980 (thiết lập chế độ sở hữu toàn dân, quốc hữu hóa, áp dụng chế định trưng mua, trưng dụng, trưng thu) đến Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 (hiến định nguyên tắc thu hồi đất vì lợi ích quốc gia, công cộng, có bồi thường theo luật định).
- Kinh nghiệm quốc tế: Phân tích cơ chế "truất hữu vì lợi ích công cộng" của Pháp, luật thu hồi đất của Úc và quy chế trưng thu, trưng dụng đất nông nghiệp tại Trung Quốc, từ đó rút ra các bài học về xác định mục đích công cộng, thẩm quyền và bảo đảm công bằng tài chính.
Chương 3: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương này đánh giá toàn diện hệ thống quy phạm pháp luật thực định và thực tiễn thi hành qua 4 nhóm nội dung:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Phân tích quy định tại Điều 3 và các điều khoản liên quan của Luật Đất đai năm 2013. Luận án chỉ ra tính bị động của người dân trong việc đóng góp ý kiến về QH, KHSDĐ; cơ chế tiếp thu ý kiến nhân dân chưa thực chất; HĐND các cấp chưa phát huy đầy đủ vai trò giám sát đại diện.
- Nội dung, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thu hồi: Đánh giá các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 61, 62 Luật Đất đai 2013). Luận án chỉ rõ ranh giới mong manh giữa dự án vì lợi ích công và dự án kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận; bất cập trong cơ chế thu hồi đất bắt buộc áp dụng cho các dự án thương mại tạo kẽ hở cho lợi ích nhóm; tình trạng kiểm đếm, đối thoại mang tính hình thức.
- Bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp: Đánh giá việc xác định giá đất bồi thường theo bảng giá nhà nước thường xuyên thấp hơn giá thị trường; các phương pháp định giá đất thiếu chính xác; việc bồi thường tài sản cây trồng trên đất chưa tính toán đến chu kỳ sinh học và sự giảm sút thu nhập trong tương lai của nông dân.
- Hỗ trợ và giải quyết khiếu nại: Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm tại nhiều địa phương còn mang tính bình quân, thiếu tính bền vững; quy định khiếu nại còn chồng chéo giữa Luật Đất đai và Luật Khiếu nại, dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài (chiếm khoảng 80% tổng số đơn thư khiếu nại toàn quốc).
Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam
Trên cơ sở thực trạng, chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp mang tính hệ thống:
- Quan điểm và yêu cầu: Hoàn thiện pháp luật phải bám sát quan điểm đổi mới chính sách đất đai của Đảng, bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật đất đai với Bộ luật Dân sự, tôn trọng quyền tài sản của NSDĐ, cân bằng lợi ích ba bên (Nhà nước - Doanh nghiệp - Người có đất bị thu hồi) và kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Hoàn thiện quy trình lấy ý kiến nhân dân thực chất; quy định rõ cơ chế xử lý khi đa số người dân không đồng thuận với quy hoạch dự kiến; tăng cường thẩm quyền và năng lực giám sát thực tế của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện.
- Về nội dung và thủ tục thu hồi: Xác định tiêu chí phân định rõ ràng các dự án thuần túy phục vụ lợi ích công cộng với dự án có mục đích thương mại; thu hẹp phạm vi thu hồi đất bắt buộc, mở rộng cơ chế nhà đầu tư thỏa thuận nhận chuyển nhượng QSDĐ tự nguyện với người dân.
- Về bồi thường: Hoàn thiện phương pháp định giá đất độc lập; đưa quy luật sinh học và lý thuyết sinh lý thực vật vào quy định bồi thường cây trồng; tính toán thiệt hại thực tế đối với tư liệu sản xuất nông nghiệp lâu dài.
- Về hỗ trợ: Thiết lập cơ chế hỗ trợ ổn định đời sống gắn liền với đào tạo nghề dài hạn (từ 2 đến 3 chu kỳ sản xuất) và bảo đảm việc làm tại chỗ; chia sẻ giá trị địa tô tăng thêm do chuyển mục đích sử dụng đất.
- Về giải quyết khiếu nại: Thống nhất quy trình khiếu nại giữa Luật Khiếu nại và Luật Đất đai; quy định rõ việc giải quyết khiếu nại dứt điểm ở từng giai đoạn trước khi chuyển sang các bước cưỡng chế, thu hồi đất tiếp theo.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ của cán bộ địa chính; công khai, minh bạch dữ liệu quy hoạch và giá đất; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm trong giải phóng mặt bằng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự khẳng định năm đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
- Hệ thống hóa và đổi mới nhận thức lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống các vấn đề lý luận về thu hồi đất nông nghiệp; luận giải và khẳng định bản chất pháp lý của việc thu hồi đất nông nghiệp thực chất là việc Nhà nước ban hành quyết định hành chính để thu hồi tài sản là quyền sử dụng đất của người sử dụng đất.
- Đánh giá toàn diện thực trạng và đề xuất tăng cường giám sát dân chủ: Phân tích cụ thể các chế định quy hoạch, thẩm quyền, trình tự thủ tục, bồi thường, hỗ trợ và khiếu nại trong Luật Đất đai năm 2013 đặt trong sự so sánh với Luật Đất đai năm 2003; chỉ rõ tính khả thi của quy phạm và đề xuất tăng cường cơ chế giám sát của Hội đồng nhân dân nhằm phát huy hiệu lực của thiết chế dân chủ đại diện.
- Ứng dụng quy luật sinh học trong xây dựng pháp luật bồi thường: Đưa ra luận cứ khoa học về việc đặt các quy định bồi thường cây trồng, đất đai trong mối quan hệ chặt chẽ với các quy luật sinh học (lý thuyết sinh lý thực vật), bảo đảm tính đúng, tính đủ thiệt hại cho NSDĐ; lưu ý đến việc bảo tồn giá trị văn hóa và môi trường sống của cộng đồng khi thu hồi diện tích đất lớn.
- Làm rõ bản chất chính sách hỗ trợ hướng đến cân bằng lợi ích: Phân tích thực tiễn áp dụng tại các địa phương để khẳng định chính sách hỗ trợ không chỉ thuần túy tuân thủ nguyên tắc bồi thường ngang giá, mà là công cụ pháp lý hướng đến sự cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người bị thu hồi đất; chứng minh bằng thực tế kinh phí hỗ trợ tại nhiều dự án có giá trị gấp nhiều lần giá trị tài sản bị thiệt hại.
- Hệ thống hóa giải pháp lập pháp từ kinh nghiệm quốc tế: Kết hợp phân tích thực tiễn trong nước với kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Úc và Trung Quốc để đề xuất lộ trình và giải pháp sửa đổi, bổ sung đồng bộ pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi nghiên cứu: Luận án không đi sâu nghiên cứu việc thu hồi đối với một số loại đất chuyên biệt thuộc nhóm đất nông nghiệp, bao gồm: đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng và đất làm muối.
- Hạn chế về thời điểm dữ liệu: Luật Đất đai năm 2013 mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014, do đó nguồn dữ liệu thực tiễn và án lệ áp dụng trực tiếp theo luật mới tại thời điểm hoàn thành luận án (năm 2017) còn đang trong quá trình tích lũy, các phân tích thực tiễn vẫn phải liên hệ, đối chiếu nhiều với các vướng mắc kéo dài từ giai đoạn thi hành Luật Đất đai năm 2003.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng đánh giá cơ chế thu hồi đất đối với các loại đất lâm nghiệp (rừng đặc dụng, phòng hộ) và đất làm muối; theo dõi, đánh giá tác động lâu dài của việc giải quyết khiếu nại tư pháp qua Tòa án đối với các quyết định hành chính thu hồi đất nông nghiệp trong các giai đoạn sửa đổi Luật Đất đai tiếp theo.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho Quốc hội, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các cơ quan hữu quan trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, đặc biệt là các quy định về thu hẹp diện tích thu hồi bắt buộc, cơ chế định giá đất độc lập và quy chế bồi thường cây trồng.
- Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Đất đai, Quản lý Đất đai tại các cơ sở đào tạo đại học và viện nghiên cứu.
- Đối với cơ quan hành chính và thực thi pháp luật: Hỗ trợ UBND các cấp, cơ quan thanh tra và Tòa án trong việc chuẩn hóa trình tự, thủ tục thu hồi đất, định giá bồi thường và giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất nông nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa bản chất pháp lý của việc thu hồi đất nông nghiệp như thế nào?
Theo luận án, thu hồi đất nông nghiệp là việc Nhà nước ban hành quyết định hành chính để thu tài sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp của người sử dụng đất hoặc thu lại đất nông nghiệp đã giao cho tổ chức, UBND cấp xã quản lý trong những trường hợp cụ thể. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường giá trị thiệt hại và hỗ trợ nhằm bảo đảm cuộc sống của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Bản chất của hành vi này là việc tước đoạt một quyền tài sản hợp pháp của người dân bằng biện pháp quyền lực đơn phương.
2. Luận án đã tích hợp các lý thuyết chuyên ngành nào ngoài khoa học pháp lý truyền thống?
Tác giả đã ứng dụng ba lý thuyết bổ trợ quan trọng:
- Lý thuyết hạn chế quyền lực: Nhằm đặt ra giới hạn pháp lý cho thẩm quyền đơn phương của cơ quan hành chính trong việc ban hành quyết định thu hồi đất.
- Lý thuyết vốn hóa thu nhập: Nhằm hoàn thiện phương pháp định giá đất nông nghiệp theo giá trị dòng tiền tạo ra từ canh tác thực tế.
- Lý thuyết sinh lý thực vật: Nhằm phân tích quy luật sinh học của cây trồng, làm cơ sở khoa học để tính toán đúng và đủ giá trị bồi thường thiệt hại tài sản trên đất nông nghiệp, đặc biệt trong các dự án công trình thủy lợi, thủy điện.
3. Tỷ lệ đơn thư khiếu nại liên quan đến lĩnh vực quản lý, sử dụng và thu hồi đất được luận án trích dẫn là bao nhiêu?
Theo số liệu Báo cáo số 2280/BC-TTCP ngày 04/8/2010 của Thanh tra Chính phủ và nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hải - Thảo Trang (2014) được luận án trích dẫn, trong tổng số các đơn khiếu nại trên toàn quốc, ước tính có khoảng 80% số vụ việc liên quan đến lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, trong đó trọng tâm trực tiếp gắn với hoạt động thu hồi đất và giải phóng mặt bằng.
4. Những loại đất nào thuộc nhóm đất nông nghiệp không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án?
Luận án nêu rõ giới hạn phạm vi loại trừ, không nghiên cứu việc thu hồi đối với 4 loại đất cụ thể trong nhóm đất nông nghiệp:
- Đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi;
- Đất rừng phòng hộ;
- Đất rừng đặc dụng;
- Đất làm muối.
5. Tại sao luận án cho rằng chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở nguyên tắc bồi thường ngang giá?
Luận án chứng minh rằng đất nông nghiệp không đơn thuần là một tài sản giao dịch dân sự thông thường mà còn là tư liệu sản xuất và sinh kế cốt lõi của nông dân. Do đó, bồi thường ngang giá tài sản tại thời điểm thu hồi không bảo đảm được cuộc sống lâu dài của người dân khi mất việc làm. Chính sách hỗ trợ thể hiện trách nhiệm xã hội và vai trò đại diện chủ sở hữu của Nhà nước nhằm chia sẻ địa tô chênh lệch và tái lập cân bằng lợi ích, thể hiện qua việc tại nhiều địa phương, tổng kinh phí hỗ trợ chuyển đổi nghề và ổn định đời sống trên thực tế gấp nhiều lần giá trị tài sản đất đai bị thiệt hại.
Kết luận
Luận án "Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam" là công trình nghiên cứu chuyên khảo pháp lý toàn diện, làm sáng tỏ bản chất của quyền sử dụng đất là quyền tài sản và việc thu hồi đất nông nghiệp là hoạt động thu tài sản của người sử dụng đất. Bằng phương pháp tiếp cận đa ngành kết hợp nghiên cứu lịch sử lập hiến và kinh nghiệm quốc tế, luận án đã phân tích sâu sắc những bất cập của hệ thống pháp luật thực định xung quanh Luật Đất đai năm 2013 trong các khâu quy hoạch, thẩm quyền, bồi thường, hỗ trợ và khiếu nại. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp nền tảng cho việc sửa đổi chính sách đất đai và bảo đảm an sinh xã hội cho người nông dân Việt Nam.