Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TƢƠNG QUAN GIỮA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ LAO ĐỘNG Cơ sở lý luận về sự tương quan giữa pháp luật lao động Việt Nam với pháp luật quốc tế về lao động trước hết nằm ở nhận thức lý luận về sự tương quan giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TƢƠNG QUAN GIỮA PHÁP LUẬT QUỐC GIA VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ Nói về sự tương quan giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế là nói về mối quan hệ qua lại và sự tác động tương hỗ nhau giữa hai hệ thống pháp luật này. Mối quan hệ qua lại và sự tác động tương hỗ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế là hai mặt không thể tách rời của một hiện tượng, diễn ra như một quá trình liên tục không ngừng và luôn luôn được điều chỉnh. Mặc dù có sự khác nhau về một số đặc trưng (đối tượng điều chỉnh, chủ thể, cơ chế thực hiện, tuân thủ giữa hai hệ thống pháp luật), nhưng luật quốc tế vẫn bị chi phối chặt chẽ bởi lợi ích quốc gia bên cạnh lợi ích cộng đồng.
Sự tương quan lợi ích giữa các quốc gia với cộng đồng các quốc gia khác được phản ánh ghi nhận ở hệ thống các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế, vì thế không có sự tách biệt giữa pháp luật gia và pháp luật quốc tế. Pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế tƣơng quan với nhau nhƣ thế nào Pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế (nói chung và trong lĩnh vực lao động nói riêng) không quan hệ và không tương tác với nhau như hai vật thể vật lý hoặc như phản ứng hóa học trong tự nhiên. 7 Trong một thế giới đặc trưng được điều chỉnh bằng luật pháp của thời đại kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế cùng song song tồn tại, quan hệ với nhau, tác động tương hỗ nhau thông qua hàng loạt những thiết chế tổ chức hoạt động cực kỳ phức tạp ở các cấp độ khác nhau trong đời sống xã hội. Hai hệ thống pháp luật này thâm nhập lẫn nhau và tác động qua lại lẫn nhau vừa theo xu hướng hài hòa nhau, vừa theo xu hướng khu biệt nhau, thậm chí xung đột nhau.
Sự tương thích giữa hai chức năng hoạt động cơ bản của nhà nước, sự thống nhất trong một số vai trò chung cơ bản của cả hai hệ thống pháp luật và sự hiện diện của quốc gia trong tư cách chủ thể tham gia, điều tiết, định chế các khung pháp luật ở phạm vi từng quốc gia cũng như phạm vi quốc tế đã đem lại cho luật quốc gia, luật quốc tế mối quan hệ biện chứng, ràng buộc và diễn ra theo chiều hướng: - Luật quốc gia có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự hình thành và phát triển của luật quốc tế. Bản chất quá trình xây dựng các quy phạm luật quốc tế mà các quốc gia tiến hành thông qua phương thức thỏa thuận chính là quá trình đưa ý chí quốc gia vào nội dung của luật quốc tế. Có thể thấy những ảnh hưởng có tính quyết định của luật quốc gia đối với luật quốc tế thể hiện ở nhiều nội dung, cấp độ, phương thức khác nhau. Ở góc độ từng nước, sự tác động có tính quy định của luật quốc gia đến luật quốc tế diễn ra theo cách mà quốc gia tham gia vào quan hệ quốc tế, thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế được duy trì bởi một số công cụ hợp tác hiệu quả như ký kết điều ước quốc tế.
Trong khi hợp tác, sự tác động của pháp luật quốc gia, với tư cách là thành viên, không tồn tại một cách đơn lẻ, đối kháng với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế mà có sự gặp nhau của ý 8 chí chung, của lợi ích chung. Sự gặp gỡ này tất yếu hình thành nên những xu hướng phù hợp với sự vận động, phát triển của thế giới khách quan vào đời sống xã hội. Mỗi quốc gia đều cố gắng đưa vào pháp luật quốc tế những ảnh hưởng và hướng điều chỉnh riêng của mình tới các vấn đề lợi ích mà họ cần đạt được từ luật quốc tế. Nói cách khác, mỗi quốc gia đều tham gia vào quan hệ quốc tế như sinh hoạt quốc tế bằng phương thức riêng của mình.
Nhưng cái riêng đó lại cần được khẳng định sự tồn tại ở những lợi ích mà pháp luật cũng như cộng đồng quốc tế có thể đem lại được. Vì thế, sự hợp tác hay liên kết, đấu tranh hay thương lượng giữa các quốc gia với nhau luôn là điều kiện thiết yếu để hình thành các quy phạm, các nguyên tắc hoặc các chế định của luật quốc tế. Việc tạo thành các quy phạm, nguyên tắc hay chế định này tuỳ thuộc ở mức độ giữa các quốc gia, và ở phạm vi đó, luật quốc gia thể hiện sự định hướng về nội dung, tính chất của các mối quan hệ quốc tế, làm phát triển hơn, hoặc làm thay đổi chúng theo chiều hướng tiến bộ. - Luật quốc tế thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện luật quốc gia Luật quốc tế có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển, hoàn thiện pháp luật quốc gia.
Là kết quả của sự thoả thuận giữa các quốc gia, luật quốc tế thể hiện nhiều sự tiến bộ, nhiều thành tựu mới của khoa học pháp lý hiện đại. Thông qua nghĩa vụ quốc tế của quốc gia trong việc tuân thủ pháp luật quốc tế, những thành tựu này khi được áp dụng ở từng quốc gia đã mang lại cho pháp luật quốc gia những sự thay đổi, bổ sung mới, vì quá trình thực hiện luật quốc tế ở từng quốc gia luôn đặt ra yêu cầu có sự phù hợp giữa hai hệ thống pháp luật. Các vấn đề đặt ra từ pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế cho thấy rằng khi phát triển hợp tác đa phương là cần thiết và điều đó có nghĩa là pháp luật quốc gia không thể được xây dựng trong khuôn khổ riêng của quốc gia 9 mà phải cải cách pháp luật quốc gia cho phù hợp với những yêu cầu cơ bản của luật pháp quốc tế. Luật quốc tế tạo cho mỗi quốc gia có điều kiện tiếp thu những tiến bộ, thành quả của cộng đồng quốc tế.
Luật quốc tế thực sự có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nội luật, mỗi quốc gia có thể vừa hoà nhập vào nền văn hoá pháp lý chung, vừa xây dựng một hệ thống pháp luật quốc gia phát triển ở cấp độ mới. Tại sao pháp luật quốc gia tƣơng quan với pháp luật quốc tế? Pháp luật quốc gia tương quan với pháp luật quốc tế vì hai nguyên nhân cơ bản nhất: Thứ nhất: Vì pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế là hai hệ thống khác nhau trong cùng một thế giới có pháp luật. Thứ hai: Pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế đều là sản phẩm hoạt động của chính các nhà nước Giả định rằng pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế là một thì không thể nói đến mối quan hệ của nó như là nói đến mối quan hệ giữa hai hệ thống khác nhau. Sở dĩ hai hệ thống pháp luật này tương quan với nhau, tức là có mối quan hệ qua lại và tác động tương hỗ với nhau vì chúng là hai hệ thống pháp luật khác nhau.
Hai hệ thống pháp luật này tuy khác nhau, nhưng chúng không tồn tại biệt lập ở hai thế giới trừu tượng, mơ hồ nào đó, mà tồn tại, vận động và phát triển một cách khách quan trong cùng một thế giới thực, trong cùng một thế giới chung, trong cùng một thế giới có pháp luật. Quả vậy, thế giới loài người chỉ có một. Nhân loại là một thế giới, mỗi quốc gia là một phần cấu thành của thế giới gồm các quốc gia. Nói cách khác, xã hội quốc tế ngày nay bao gồm các quốc gia độc lập, có chủ quyền mà Nhà nước là đại diện cho các quốc gia đó.
Thời đại của chúng ta là thời đại có Nhà 10 nước và có luật pháp, mỗi quốc gia có pháp luật của riêng mình. Thế giới có pháp luật quốc tế chung. Luật pháp nói chung (ngụ ý cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế) là một hiện tượng xã hội, một thuộc tính phổ biến cấu thành nội dung của đời sống xã hội loài người trong thời đại hiện nay. Pháp luật quốc gia tương quan với pháp luật quốc tế vì mặc dù là hai hệ thống khác nhau, nhưng pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế đều do các Nhà nước đặt ra.
Nó thể hiện ý chí và quyền lực của các Nhà nước. Pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế suy cho cùng đều qui về ý chí Nhà nước. Đây là thuộc tính bản chất chung nhất của bất kỳ hệ thống pháp luật nào. Chính thuộc tính chung nhất này về bản chất của hai hệ thống pháp luật là cội nguồn làm nên sự tương quan giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế.
Nhưng thuộc tính bản chất của pháp luật quốc gia có khía cạnh khác so với bản chất của pháp luật quốc tế. Sự khác nhau đó làm nên hai hệ thống pháp luật khác nhau. Tính chất đơn phương trong thuộc tính bản chất của pháp luật quốc gia. Bản chất của pháp luật quốc gia là ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trong quốc gia đó được đề lên thành luật, thể hiện quyền lực nhà nước của quốc gia đó.
Trong trường hợp này pháp luật quốc gia thể hiện ý chí nhà nước và quyền lực nhà nước đơn phương. Tính chất thỏa thuận ý chí nhà nước của pháp luật quốc tế. Luật pháp quốc tế là tổng thể những nguyên tắc, quy phạm được xây dựng nên bằng sự thỏa thuận ý chí giữa các quốc gia do Nhà nước đại diện, các chủ thể khác của luật pháp quốc tế, có giá trị và hiệu lực bắt buộc thi hành, để điều chỉnh quan hệ quốc tế giữa các quốc gia, các tổ chức liên quốc gia, liên chính phủ, nhằm phục vụ cho lợi ích của mỗi quốc gia, mỗi chủ thể pháp luật quốc tế và phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng quốc tế.