CHƯƠNG 1: NGƯỜI ĐẠI DIỆN DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1. ĐỊNH NGHĨA VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT Cụm từ “Người đại diện pháp luật” thường được nhắc đến trong các văn bản pháp Luật. BLDS 201518 không định nghĩa “người đại diện pháp luật” là gì nhưng có đề cập đến những trường hợp có thể trở thành “đại diện pháp luật” của doanh nghiệp, có thể do điều lệ hay do pháp luật quy định.19 Trong khi đó, Luật doanh nghiệp Việt Nam 2014 có định nghĩa “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”20. Theo định nghĩa này có thể được hiểu, đại diện pháp luật là người trực tiếp điều hành, chịu trách nhiệm tất cả hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty.
Định nghĩa về đại diện pháp luật của Luật Việt Nam gần giống về định nghĩa về Giám đốc theo Luật công ty Anh 2006. Luật công ty Anh thì không có khái niệm người đại diện pháp luật của doanh nghiệp. Luật công ty Anh chỉ có định nghĩa chung về giám đốc- “director- giám đốc: là người giữ vị trí điều hành công ty cho dù được gọi với tên gọi gì”21 Theo Luật doanh nghiệp 200522, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chỉ là một người duy nhất, người này có thể là Giám đốc, Tổng Giám đốc hay Chủ tịch Hội đồng thành viên, đối với công ty TNHH23. Đối với công ty cổ phần, đại diện pháp luật có thể là Giám đốc, Tổng Giám đốc hay Chủ tịch Hội đồng quản trị24.
18 Bộ Luật dân sự 2015, ban hành ngày 24/11/2015 và có hiệu lực ngày 1/1/2017 19 Điều 137, Luật doanh nghiệp 2015. 20 Khoản 1, điều 13, Luật doanh nghiệp 2014 21 Điều 250, Luật công ty Anh. “In the Companies Acts “director” includes any person occupying the position of director, by whatever name called.” 22 Hết hiệu lực vào ngày 1/7/2017 và thay thế bằng Luật doanh nghiệp 2014. 23 Điều 46, điều 67 Luật doanh nghiệp 2005 24 Điều 95 Luật doanh nghiệp 2005 12 Người đại diện pháp luật này có thể là công dân Việt Nam hay người có quốc tịch nước ngoài, nhưng điều kiện tiên quyết là những người này phải thường trú tại Việt Nam.
Trường hợp nếu những người này rời Việt Nam trên 30 ngày thì bắt buộc phải làm ủy quyền cho người khác. Quy định mỗi doanh nghiệp chỉ một người đại diện pháp luật qua một thời gian thực hiện đã bộc lộ ra nhiều hạn chế. Đầu tiên, nếu người đại diện pháp luật có sự cố đột xuất, như ốm đau, bận việc gấp hay rơi vào một số tình huống không dự liệu trước, bắt buộc phải vắng mặt… mà chưa kịp làm ủy quyền, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng. Thêm vào đó, nếu trường hợp người đại diện pháp luật của doanh nghiệp mất đột ngột, ủy quyền của người đại diện pháp luật cho người khác sẽ trở nên hết hiệu lực, lúc đó hoạt động của doanh nghiệp chắc chắn sẽ bị gián đoạn.
Người đại diện pháp luật có thể là là người góp vốn vào công ty công ty, nắm giữ phần vốn lớn có quyền chi phối, có thể chỉ góp một vần vốn nhỏ trong công ty. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, người đại diện pháp luật không hề bỏ vốn vào công ty. Do đó, trong một số trường hợp nếu người đại diện pháp luật nhất là người đại diện pháp luật không góp vốn và những người góp vốn không tìm được tiếng nói chung, người đại diện lại bất hợp tác, nhất quyết không ký vào các hồ sơ, văn bản của doanh nghiệp … cũng làm việc kinh doanh của doanh nghiệp bị ngưng trệ. Từ những trường hợp trên cho thấy những bất tiện nếu doanh nghiệp chỉ có một người đại diện pháp luật.
Thấy được những nhược điểm này nên luật doanh nghiệp 2014 đã có những cải tiến đáng kể. Luật đã cho phép công ty có thể có nhiều người dại diện pháp luật, cùng nhau giải quyết việc công ty. “Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật”25. Rõ ràng, đây là một quy định thông thoáng cởi trói cho doanh nghiệp rất nhiều.
Doanh nghiệp có thể tùy nghi bổ nhiệm nhiều đại diện pháp luật, có địa vị pháp lý giống nhau, mỗi đại diện tự chịu trách nhiệm trên mỗi phần việc của mình mà không phụ thuộc vào bất kỳ người nào khác. Sẽ có ý kiến cho rằng, quy định doanh nghiệp có nhiều đại diện pháp luật sẽ có nhiều người cùng thực hiện một công việc, chồng chéo dẫm chân lên nhau. Theo người viết, lo lắng này là thừa vì Luật đã quy định rõ ràng “Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và 25 Khoản 2, điều 13, Luật doanh nghiệp 2014 13 quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Luật đã trao quyền tự quyết cho doanh nghiệp, doanh nghiệp muốn có một hay mười đại diện pháp luật đó là lựa chọn của doanh nghiệp, dựa vào tình hình kinh doanh thực tế của mình, Luật không can thiệp và cũng không cần phải can thiệp.
Quy định doanh nghiệp có nhiều đại diện pháp luật giống với quy định của một số nước trên thế giới. Luật công ty Anh 2006 không có khái niệm người đại diện pháp luật nhưng có khái niệm về Giám Đốc – Director hay khái niệm Giám đốc đại diện- Representative director. Theo đó, Luật công ty Anh không có giới hạn số lượng giám đốc tối đa bao nhiêu nhưng lại bắt buộc phải có số lượng giám đốc tối thiểu ở từng loại hình công ty. Ở công ty tư nhân – Private company27 thì chỉ cần có ít nhất một giám đốc, trong khi công ty đại chúng – Public company28 phải có ít nhất hai giám đốc điều hành hoạt động kinh doanh của công ty29.
Những giám đốc này cùng chịu trách nhiệm điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có thể được chỉ định hoặc bầu chọn bởi nhóm cổ đông nhưng những giám đốc này không điều hành doanh nghiệp vì quyền lợi của nhóm cổ đông bầu chọn mình mà vì lợi ích chung của doanh nghiệp30. Thậm chí, Luật công ty Mỹ còn có quy định cho phép những staggered term for directors31 là những giám đốc được bầu chọn bởi những nhóm cổ đông khác nhau, cùng điều hành công ty trong những nhiệm kỳ so le, tránh việc tập trung quyền lực vào cùng một người. Từ những dẫn chứng trên cho thấy, Luật của Anh, Mỹ tuy không có khái niệm người đại diện pháp luật như Luật Việt Nam nhưng họ có một Ban giám đốc để chịu trách nhiệm về tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vai trò như những “đại diện Pháp luật” theo Luật Việt Nam. Không như đến năm 2014, Luật Doanh 26 Khoản 2, điều 13, Luật doanh nghiệp 2014 27 A Private company: a company whose shares are not traded on a stock market.
Available at: <https://dictionary.org/dictionary/english/private-company>. 28 A public company: a business that is owned by many people who have bought shares in it. Available at: <https://dictionary.org/dictionary/english/private-company>. 29 Điều 150, Luật công ty Anh 2006 30 Representative Director, June 2011.
Available at: <https://cdn.za/resource/collection/05E93ACB-10BE-4507-9601- 307A66F34BD8/CGN_Position_Paper_4_Representative_Directors. 31 Theo Jane Mallor and ctg (2004), Ban giám đốc có nhiệm kỳ so le., Business law: The ethical, global, and e-commerce environment, page 1177. 14 nghiệp Việt Nam mới cho phép nhiều đại diện Pháp luật. Luật Công ty Anh từ lâu đã yêu cầu công ty cổ phần phải có ít nhất hai giám đốc điều hành công việc kinh doanh công ty32.
Do đó, nhiều quy định có nhiều “đại diện pháp luật” trong doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 theo tác giả đã tiếp cận theo xu thế chung của thế giới. CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHÁP LUẬT THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ ĐIỀU LỆ CÔNG TY Luật không quy định trực tiếp quyền của người đại diện pháp luật là gì mà được quy định gián tiếp thông qua quyền của Chủ tịch hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của chủ tịch hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần- sau đây gọi tắt chung là chủ tịch. Quyền của người đại diện pháp luật cũng thông qua Tổng giám đốc, Giám đốc công ty. Người đại diện pháp luật của công ty có thể là Chủ tịch công ty, có thể là Giám đốc hay Tổng Giám đốc tùy thuộc vào điều lệ công ty33.
Nếu người đại diện theo pháp luật của công ty của công ty là chủ tịch công ty thì sẽ có các quyền sau “Lập chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng quản trị… Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty”. Luật quy định các quyền của chủ tịch hội đồng quản trị chủ yếu là liên quan đến cơ chế hoạt động của hội đồng quản trị, của các cổ đông hơn là các hoạt động điều hành của công ty. Tuy nhiên, Luật cũng để cho doanh nghiệp quyền tự quyết kèm theo quy định “các quyền khác theo điều lệ công ty”. Nếu doanh nghiệp muốn trao nhiều quyền hơn nữa cho chủ tịch công ty của mình, doanh nghiệp có quyền đưa nó vào điều lệ, Luật không hề can thiệp.
Nếu người đại diện công ty là giám đốc, Luật quy định giám đốc có các quyền như “Quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hằng ngày của công ty, Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty.”34 Tổng giám đốc, giám đốc được Luật quy định các quyền điều hành hoạt động công ty. Tuy nhiên, cũng tương tự quyền hạn của chủ tịch, các quyền này có thể được 32 Xem ghi chú số 24 33 Khoản 2, điều 134, Luật doanh nghiệp 2014 34 Điều 157, Luật doanh nghiệp 2014 15 tăng thêm hoặc giảm bớt tùy theo tình hình thực tế của công ty và thường được quy định tại điều lệ công ty. Người đại diện theo pháp luật của công ty cũng được hiểu là người điều hành, chịu trách nhiệm tất cả hoạt động của của công ty. Người đại diện được coi là một trong những người có vai trò quan trọng nhất công ty nên cả Luật và điều lệ công ty có nhiều quy định dành cho người đại diện pháp luật.