CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm chung về doanh nghiệp và pháp luật doanh nghiệp 1. Khái niệm chung về doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kì quốc gia nào, doanh nghiệp cũng là đơn vị cơ sở, một tế bào của nền kinh tế tạo ra của cải vật chất cho xã hội, trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý nhằm tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ một cách có hiệu quả nhất.
Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin các hình thức tổ chức doanh nghiệp cũng ngày càng đa dạng và các loại hình sở hữu của doanh nghiệp cũng ngày càng phong phú hơn. Do đó, nếu đứng trên quan điểm khác nhau chúng ta có thể định nghĩa về doanh nghiệp cũng khác nhau. Pháp luật hiện hành Việt Nam đưa ra định nghĩa pháp lý về doanh nghiệp. Luật công ty (1990) mà sau đó được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp (1999), Luật Doanh nghiệp (2005) và mới đây nhất là Luật Doanh nghiệp 2014 là các văn bản đưa ra định nghĩa chính thức về doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Để thống nhất cách hiểu về doanh nghiệp, chúng ta cần xem xét khái niệm doanh nghiệp từ hai góc độ: kinh tế - xã hội và pháp lý, gắn với những yếu tố của kinh tế thị trường. * Từ góc độ kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp được coi là thành tố cơ bản của hệ thống kinh tế - xã hội. Bản chất của doanh nghiệp là những thực thể xã hội, sinh ra với chức năng chủ yếu là hoạt động sản xuất kinh doanh. Với chức năng kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế cũng như toàn xã hội.
Sự tồn tại của doanh nghiệp luôn được đặt trong môi trường kinh tế - xã hội xác định. Các yếu tố của môi trường kinh tế - xã hội (cơ chế kinh tế, trình độ phát triển kinh tế, hệ thống pháp luật, trình độ dân trí, văn hóa kinh doanh.) đều có tác động đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp ở những phương diện và mức độ khác 7 nhau. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong các hoạt động kinh tế. * Từ góc độ pháp lý, doanh nghiệp được hiểu là một loại chủ thể pháp luật (có tư cách chủ thể pháp lý độc lập) và có ngành nghề kinh doanh.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp trở thành đối tượng trung tâm chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật kinh doanh. Từ các định nghĩa nêu trên chúng ta có thể đưa ra một khái niệm toàn diện hơn về doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau: Thứ nhất, doanh nghiệp là một loại chủ thể pháp luật. Với tư cách là một loại chủ thể pháp luật, doanh nghiệp có năng lực chủ thể để tham gia vào các quan hệ pháp luật, trong đó trước hết và chủ yếu là các quan hệ kinh doanh.
Tính chất chủ thể pháp lý độc lập của doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp có quyền tự chủ, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chưc hoạt động. Trách nhiệm pháp lý cơ bản của doanh nghiệp về hoạt động kinh doanh thể hiện ở chỗ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, thậm chí vượt ra khỏi phạm vi những tài sản đó về những cam kết tài chính, nợ nần trong kinh doanh. Thứ hai, doanh nghiệp được xác lập tư cách (thành lập và đăng ký kinh doanh) theo thủ tục do pháp luật quy định. Việc thành lập và đăng ký kinh doanh là cơ sở để xác định tính chất chủ thể pháp lý độc lập của doanh nghiệp, gắn với những đặc điểm của hoạt động kinh doanh.
Đặc điểm này xuất phát từ yêu cầu của quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Thứ ba, doanh nghiệp phải có ngành nghề kinh doanh. Đặc điểm này biểu hiện ở chỗ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện có hệ thống, một cách độc lập, trên danh nghĩa và trách nhiệm của doanh nghiệp với mục đích sinh lời và 8 trong điều kiện pháp luật quy định. Tính chất hoạt động kinh doanh có hệ thống là một dấu hiệu cơ bản để xác định nghề nghiệp kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài ra, bản thân nghề nghiệp kinh doanh cũng đã quy định mục đích thu lợi nhuận trong các hoạt động của doanh nghiệp. Phân loại doanh nghiệp Việc phân loại doanh nghiệp nhằm các mục đích khác nhau và được dựa trên các tiêu chí khác nhau. Từ góc độ nghiên cứu và lập pháp, việc phân loại doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng cho việc lựa chọn cơ chế điều chỉnh pháp luật thích hợp đối với doanh nghiệp, cả về quản lý Nhà nước và quản trị doanh nghiệp. Có nhiều căn cứ để phân loại doanh nghiệp như căn cứ vào tính chất sở hữu và mục đích hoạt động của doanh nghiệp; phân loại theo cơ cấu nhà đầu tư và phương thức góp vốn vào doanh nghiệp; phân loại theo tư cách pháp lý của doanh nghiệp.
Ở hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau thì có sự phân chia các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Ở Việt Nam, do những điều kiện lịch sử, xã hội đặc thù, doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều điểm khác biệt lớn so với xu hướng phổ biến trên thế giới, một trong những khác biệt đó là vấn đề loại hình doanh nghiệp. Ở Việt Nam hiện nay, việc phân loại các doanh nghiệp được thực hiện trên nhiều tiêu chí. Các tiêu chí thường được sử dụng là hình thức sở hữu vốn, hình thức pháp lý của doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh.
Theo hình thức pháp lý của doanh nghiệp có thể phân chia thành các doanh nghiệp như sau: * Doanh nghiệp tư nhân: là một tổ chức kinh tế được đăng ký kinh doanh theo quy định và thực hiện các hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ, có tài sản, có trụ sở giao dịch. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật, có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của công ty. Thông thường, chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ trực tiếp quản lý và điều hành mọi hoạt động của công ty, tuy nhiên người chủ này vẫn có thể thuê người khác để 9 thay mình làm công việc này.
Doanh nghiệp tư nhân là công ty trách nhiệm vô hạn và không có tư cách pháp nhân. * Công ty trách nhiệm hữu hạn: là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được pháp luật thừa nhận. Chủ sở hữu công ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng biệt. Trước pháp luật, công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các quyền và nghĩa vụ tương ứng với quyền sở hữu công ty.
* Công ty cổ phần: là loại hình công ty trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, được thành lập và tồn tại độc lập. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra ngoài theo quy định của pháp luật về chứng khoán. * Công ty hợp danh: là công ty trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty, ngoài các thành viên công ty hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Căn cứ vào tính chất sở hữu tài sản trong doanh nghiệp: Theo tiêu chí này doanh nghiệp được phân thành các loại: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: * Doanh nghiệp Nhà nước: Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn.
Nhà nước - người đại diện toàn dân - tổ chức thực hiện chức năng quản lý trên mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi thành lập cho đến khi giải thể. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. * Doanh nghiệp dân doanh được hiểu là các loại hình kinh doanh trong nước không do"nhà nước tổ chức và quản lý. * Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài với các đối tác trong nước. 10 Dựa vào nguồn gốc vốn có thể phân chia thành các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài * Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước là những doanh nghiệp do các tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam dùng vốn bằng tiền mặt, hiện vật hoặc quyền về tài sản để sản xuất, kinh doanh dưới hình thức thành lập mới doanh nghiệp hoặc mở rộng quy mô một cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc mua cổ phần của các doanh nghiệp, góp vốn vào doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. * Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một loại hình doanh nghiệp bắt đầu phát triển tại nước ta từ thời kỳ cải cách mở cửa và phát triển cho đến ngày nay. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là những doanh nghiệp được các công ty nước ngoài thành lập để đầu tư phát triển kinh doanh tại thị trường Việt Nam hoặc là các doanh nghiệp trong nước được mua lại và sát nhập vào các công ty nước ngoài.
Vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Qua hơn 30 năm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường, đã diễn ra quá trình thay đổi to lớn trong việc phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam. Từ chỗ nền kinh tế dựa chủ yếu vào doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, hiện nay nước ta đã có trên 620.