CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA THEO PHÁP LUẬT 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô vốn, lao động hay doanh thu ở dưới ngưỡng do pháp luật quy định. Theo thông lệ quốc tế, DNNVV có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Qua khảo sát pháp luật của các quốc gia trên thế giới đã cho thấy, pháp luật về hỗ trợ DNVVN sử dụng 2 nhóm tiêu chí phổ biến để phân loại DNNVV: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Tiêu chí định tính: được xác định dựa trên những đặc điểm cơ bản của DNVVN như: không có vị thế độc quyền hoặc có vị trí thống lĩnh trên thị trường, kỹ năng chuyên môn hoá thấp, chưa thiết lập mạng lưới phân phối… và do đó thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nó chỉ được làm cơ sở để tham khảo mà ít được sử dụng trên thực tế để phân loại. Tiêu chí định lượng: được xác định dựa trên những chỉ tiêu định lượng của doanh nghiệp như: (i) Số lao động thường xuyên và không thường xuyên trong doanh nghiệp; (ii) Giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận.
Trong đó: - Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế. - Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản hay vốn cố định, giá trị tài sản còn lại.- Doanh thu có thể là tổng doanh thu trong một năm, tổng giá trị gia tăng trong một năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ tiêu này). Ở mỗi quốc gia, người ta có tiêu chí riêng để xác định DNNVV ở nước mình. Ở Đức, DNNVV được định nghĩa có số lao động dưới 500 người, ở Bỉ là dưới 100 người.
Trong khi đó tại Mỹ lại phân loại chi tiết hơn, những doanh 9 nghiệp có số lao động dưới 100 người được coi là doanh nghiệp nhỏ, dưới 500 người là doanh nghiệp vừa… Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động và nguồn vốn 20 đến 100 tỷ [2, tr. Theo Điều 4, Luật số 04/2017/QH14 hỗ trợ DNNVV ngày 12/06/2017 hiện hành thì không đưa ra quy phạm định nghĩa về DNVVN mà chỉ khái quát các loại DNNVV bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí (i) tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; (ii) tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Theo Điều 6, Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2018 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật hỗ trợ DNVVN, tiêu chí xác định DNVVN cụ thể như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình 10 quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này”. Phân loại DNNVV Quy Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa mô Tổng Tổng doanh Tổng doanh Số lao Số lao Số lao doanh thu thu thu động bình động bình động bình năm/Tổng năm/Tổng năm/Tổng Ngành quân năm quân năm quân năm nguồn vốn nguồn vốn nguồn vốn kinh tế 1. Nông, lâm Dưới 3 tỷ 10 người Dưới 50 tỷ Từ trên 10 Dưới 200 tỷ Từ trên nghiệp, thủy đồng/Dưới trở xuống đồng/Dưới người đến đồng/Dưới 100 người sản, công 3 tỷ đồng 20 tỷ đồng dưới 100 100 tỷ đồng đến dưới nghiệp và xây người 200 người dựng 11 2. Thương Dưới 10 tỷ 10 người Dưới 100 tỷ Từ trên 10 Dưới 300 tỷ Từ trên 50 mại, dịch vụ đồng/Dưới trở xuống đồng/Dưới người đến đồng/Dưới người đến 3 tỷ đồng 50 tỷ đồng dưới 50 100 tỷ đồng dưới 100 người người Nguồn: Điều 6, Nghị định 39/2018/NĐ-CP 1.
Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa Qua khảo sát hệ thống pháp luật trên thế giới và của Việt Nam có thể cho phép rút ra những đặc điểm pháp lý của DNVVN như sau: Thứ nhất, DNNVV là một chủ thể kinh doanh, có đầy đủ các đặc điểm của một doanh nghiệp theo hệ thống pháp luật quốc gia. Theo khoản 1, Điều 4, Luật số 04/2017/QH14 hỗ trợ DNNVV ngày 12/06/2017 DNNVV là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí (i) tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; (ii) tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Theo số liệu được Ủy ban châu Âu công bố 8/2014, hơn 20 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa ở châu Âu chiếm 99% tổng số doanh nghiệp. Theo báo cáo mới nhất vào tháng 1/2014 của Tradeup về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Mỹ, nhóm doanh nghiệp này chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, sử dụng trên 50% tổng số lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho 65% lượng lao động ở khu vực tư nhân.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2017, trong tổng cố 517.900 doanh nghiệp (DN) đăng ký, số DNNVV chiếm tới 98,1%, trong đó, DN vừa có gần 8,5 nghìn DN, tăng 23,6% so với thời điểm 1/1/2012; DN nhỏ là 114,1 nghìn và DN siêu nhỏ là 385,3 nghìn. Bình quân năm giai đoạn 2012- 2017, số DNVVN tăng 8,8% cao hơn mức tăng bình quân của DN lớn là 5,4%. Thứ hai, DNNVV gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình phát triển do những hạn chế về quy mô nhỏ, thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn, trình độ công nghệ còn 12 lạc hậu, khả năng quản trị doanh nghiệp yếu, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, thiếu mặt bằng để phát triển sản xuất kinh doanh, đại bộ phận chưa quan tâm đến xây dựng thương hiệu, khó liên kết để tạo thế mạnh chung. Các mô hình đầu tiên, xuất hiện từ đầu thập niên 1950 trên thế giới, nhìn nhận khu vực DNNVV như một thực thể yếu đuối cần bảo vệ, do vậy, chính phủ các nước theo trường phái này đã xây dựng các chính sách phát triển DNNVV theo chiều rộng nhằm chủ yếu thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội như giải quyết công ăn việc làm hay phát triển cân đối vùng.
Do vậy, các chính sách phát triển DNNVV được đặt ra vào thời điểm đó thường không mang các yếu tố khách quan mà chủ yếu là để thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đã được đặt ra, nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị. Các DNNVV được xem là những cứu cánh để tạo ra công ăn việc làm, hay là động lực chính để phát triển cân đối vùng và đồng thời cũng được xem là lực lượng đối trọng đối với sự tập trung quyền lực kinh tế của các doanh nghiệp lớn. Thứ ba, DNNVV chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty, tập đoàn lớn và từ chính các doanh nghiệp với nhau. Khu vực doanh nghiệp lớn với công nghệ sử dụng nhiều vốn thì cung cấp hàng hoá cho thị trường bậc cao, trong khi đó khu vực doanh nghiệp nhỏ với công nghệ lạc hậu thì cung cấp hàng hoá kém chất lượng cho thị trường thấp cấp.
Kết quả là các biện pháp chính sách đã tạo ra một môi trường biệt lập giữa hai khu vực doanh nghiệp, luôn xem phía bên kia như là đối thủ và điều này ngăn cản nghiêm trọng mối quan hệ sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn. Thứ tư, do sự hạn chế về quy môn vốn và lao động, các DNVVN chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ. DNNVV là loại hình có quy mô vốn và lao động nhỏ nên nó có nhiều ưu điểm, lợi thế, cụ thể: Một là: Dễ dàng khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp với bộ máy gọn nhẹ và 13 năng động, nhạy bén và dễ dàng sử dụng các công nghệ cao. Với một số vốn hạn chế song có thể tạo ra hiệu quả rất cao từ việc tận dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.