Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền của lao động nữ và pháp luật về bảo vệ quyền của lao động nữ. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ quyền của lao động nữ trên địa bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Một số định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp luật về bảo vệ quyền của lao động nữ trên địa bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. 6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LAO ĐỘNG NỮ VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ 1.
Một số khái niệm liên đến lao động nữ và quyền của lao động nữ 1. Khái niệm lao động nữ Lao động là nhân tố quyết định đối với sự phát triển xã hội loài người. Theo Ăng-ghen thì lao động đã tạo ra chính bản thân con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Trong đó, nữ giới tham gia vào lực lượng lao động ngày càng nhiều và thường làm nhiều công việc trong nhiều lĩnh vực khác nhau hơn nam giới.
Lao động nữ mang những đặc tính về sức khỏe, tâm sinh lý riêng mà chỉ bản thân LĐN mới có, điều đó tạo nên sự khác biệt giữa lao động nam và LĐN, do đó pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật lao động các nước nói riêng luôn có những cơ chế, chính sách phù hợp để đảm bảo đầy đủ nhất quyền lợi cho nhóm lao động đặc thù này. Như vậy, có thể xem xét khái niệm LĐN dưới các góc độ sau: Thứ nhất, xét về mặt sinh học thì LĐN là người lao động có “giới tính nữ”. Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người hay toàn bộ những người trong xã hội một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở. Sự xác định giới tính này là đặc điểm riêng biệt nhất để phân biệt nam và nữ và chỉ có người phụ nữ mới có thiên chức làm mẹ, có khả năng mang thai và sinh con.
Thứ hai, xét về mặt pháp lý thì LĐN là “người lao động”, là người làm công ăn lương. Về mặt bản chất, LĐN khi tham gia quan hệ lao động được xác định là người lao động, nghĩa là họ có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Năng lực pháp luật lao động là khả năng mà pháp luật quy định hay ghi nhận cho họ có quyền được làm việc, được trả công và được thực hiện những nghĩa vụ của người lao động. Năng lực hành vi lao động là khả năng của cá nhân bằng chính hành vi của mình trực tiếp tham gia các quan hệ lao động, tự hoàn thành mọi nhiệm vụ, gánh vác nghĩa vụ và hưởng mọi quyền lợi của người lao động.
Như vậy, lao động nữ được hiểu là người lao động có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam về tâm sinh lý và thể lực, mang những đặc trưng riêng về 7 giới khi tham gia quan hệ lao động. Khái niệm quyền của lao động nữ Thế giới có nhiều văn kiện quy định bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của người LĐN nói riêng: Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 xác nhận những nhân quyền cơ bản, tôn trọng các quyền tự do, phẩm cách và giá trị con người cũng như quyền bình đẳng nam nữ để đảm bảo sự thừa nhận này được thực thi trên bình diện quốc gia và quốc tế. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 của Liên hợp quốc quy định việc nam và nữ có quyền bình đẳng trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa đồng thời cần dành sự bảo hộ đặc biệt cho các bà mẹ trong một khoảng thời gian thích đáng trước và sau khi sinh con, trong khoảng thời gian đó, các bà mẹ cần được nghỉ có lương hoặc nghỉ với đầy đủ các phúc lợi an sinh xã hội. Công ước CEDAW- Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (Convention on the Elimination of all forms of Discrimination against Women) là văn kiện quốc tế mang tính ràng buộc pháp lý đầu tiên nhằm ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ nữ và xây dựng một chương trình hành động nhằm thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ …Tất cả những văn kiện đó đều không nằm ngoài mục tiêu thúc đẩy công bằng xã hội, bảo vệ các quyền lao động và quyền con người của người lao động, đặc biệt là LĐN (Đặng Thị Thơm, Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sỹ, 2016).
Khi nói đến quyền của phụ nữ là nói đến quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Về nguyên tắc, quyền phụ nữ phụ thuộc vào thành quả của quá trình biến đổi, phát triển của xã hội và việc thừa nhận bảo vệ, bảo đảm thực hiện các quyền của phụ nữ là điều kiện không thể thiếu đối với việc bảo đảm và thực hiện các quyền của con người và quyền của cộng đồng dân tộc, quốc gia, quốc tế nói chung. Quyền phụ nữ cũng có tất cả những đặc trưng của quyền con người như tính phổ biến, tính không thể chuyển nhượng, tính không thể chia cắt… Quyền phụ nữ vừa là sản phẩm của phát triển và tiến bộ xã hội, cũng đồng thời là kết quả được tạo ra từ sự nỗ lực, tự giải phóng, tự đấu tranh của phụ nữ. Quyền lao động và quyền của LĐN có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Quyền lao động vừa là quyền con người đồng thời cũng là quyền cơ bản của công 8 dân được Hiến pháp và pháp luật lao động ghi nhận và bảo vệ. Quyền của LĐN là sự cụ thể hóa quyền lao động đối với LĐN căn cứ vào yếu tố đặc thù của giới. Quyền của LĐN là khả năng mà pháp luật cho phép LĐN được tiến hành hay đó là thước đo hành vi được phép của LĐN trong quan hệ lao động với mục đích thỏa mãn lợi ích của mình và được bảo đảm bởi nghĩa vụ pháp lý của người sử dụng lao động hoặc Nhà nước. Quyền của LĐN được quy định để tạo điều kiện cho LĐN được phát triển mọi tiềm năng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của họ cả về vật chất và tinh thần.
Quyền của LĐN là một phạm trù pháp lý có giới hạn. Bởi trong một quan hệ pháp luật cụ thể thì quan hệ lao động bao giờ cũng tương ứng với nghĩa vụ của người sử dụng lao động và ngược lại nên để đảm bảo hài hòa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật thì bên cạnh việc thực hiện các quyền mà pháp luật quy định cho mình, LĐN còn phải thực hiện các nghĩa vụ nhằm đáp ứng quyền của các chủ thể đối tác trong cùng quan hệ pháp luật. Như vậy, Quyền của lao động nữ là khả năng pháp lý mà Nhà nước thừa nhận và quy định cho lao động nữ có chú ý đến đặc thù về giới trong lĩnh vực lao động, việc làm và các vấn đề liên quan, được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp nhất định. Nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền của lao động nữ 1.
Sự cần thiết phải bảo vệ lao động nữ Xã hội ngày càng phát triển thì phụ nữ càng khẳng định được vai trò của mình, LĐN đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội. LĐN luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực hoạt động vật chất, LĐN là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người, LĐN còn “sản xuất” ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội. Ngoài ra, nền văn hóa dân gian của bất kì đất nước hay dân tộc nào cũng có sự tham gia của đông đảo phụ nữ bằng nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam giới thì LĐN còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ nên có những đặc điểm riêng về sức khỏe, tâm sinh lý, do đó việc bảo vệ quyền của LĐN là hết sức cần thiết, điều này xuất phát từ những lý do sau đây: 9 Xét về thể lực, do những đặc thù không thể thay đổi về cấu trúc cơ thể, so với lao động nam thì LĐN thường gặp nhiều trở ngại về sức khoẻ, cũng như độ dẻo dai do những ảnh hưởng của giới tính, điều này vô hình chung đã hạn chế quyền được tham gia lao động bình đẳng với nam giới.
Bù lại so với lao động nam thì LĐN lại khéo léo, bền bỉ, kiên trì hơn trong công việc, do đó những công việc mang vác nặng nhọc thường do lao động nam đảm nhận còn những công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo do LĐN đảm nhận. Mặc dù ngày nay, quyền bình đẳng giữa hai giới đã được quan tâm và thúc đẩy mạnh mẽ nhưng trong suy nghĩ của NSDLĐ cũng như đa phần mọi người đều cho rằng nam giới nhanh nhạy hơn cũng như khả năng tiếp cận công việc nhanh hơn nữ giới. Về mặt tâm lý, nhất là các nước Châu á, đa phần là những phụ nữ sống ở thành phố, đã tiếp thu những luồng tư tưởng mới, phù hợp với sự phát triển hiện đại của kinh tế - xã hội thì vẫn còn một bộ phận LĐN chịu ảnh hưởng của quan niệm truyền thống, mang nặng tâm lý trọng nam kinh nữ, do đó người phụ nữ ít được tham gia vào các quan hệ xã hội, ít được học hành. Trong thực tế đời sống hiện nay thì tư tưởng đó gần như đã được xóa bỏ, vị thế của người LĐN được nâng cao và vai trò của họ đã được xã hội thừa nhận.
Tuy nhiên ở một số nơi phụ nữ vẫn chưa được giải phóng hoàn toàn, như một số vùng nông thôn hay các tỉnh miền núi nhiều phụ nữ vẫn không có việc làm hoặc phải làm những công việc nặng nhọc, quá sức. Một số doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước không muốn tiếp nhận LĐN vào làm việc; trên các thông tin đăng tuyển việc làm trên mạng xã hội, nhiều doanh nghiệp còn chú thích rõ: chỉ tuyển lao động nam. Giải thích về vấn đề này các doanh nghiệp thường ngụy biện rằng do yêu cầu công việc nên không tuyển LĐN, hoặc số lượng nhân viên đã đủ LĐN nên không tuyển.