Chương 1: Tổng quan về lao động nữ Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Chương 2: Quy định pháp luật và quản lý nhà nước về bảo vệ lao động nữ Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Chương 3: Phương hướng và đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo vệ lao động nữ Việt Nam làm việc ở nước ngoài. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ LAO ĐỘNG NỮ VIỆT NAM LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI 1.Thực trạng lao động nữ Việt Nam làm việc ở nƣớc ngoài 1.Hình thức làm việc Lao động nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo một trong các hình thức quy định tại Điều 6 Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 2006 như sau: 1.
Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; 3. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề; 4. Hợp đồng cá nhân.
Trên thực tế số lượng lao động nữ Việt Nam hiện nay đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là lớn nhất. Một cách gọi khác là lao động nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thông qua dịch vụ môi giới là phổ biến nhất so với các hình thức khác. 10 Theo hình thức nêu trên, có thể tồn tại ba loại hợp đồng ràng buộc trong quan hệ lao động và đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và trách nhiệm của người lao động nữ khi đi làm việc ở nước ngoài: Loại thứ nhất, hợp đồng cung ứng lao động. Đây là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp dịch vụ với bên nước ngoài về điều kiện, nghĩa vụ của các bên trong việc cung ứng và tiếp nhận lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Loại thứ hai, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đây là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp dịch vụ với người lao động về quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Loại thứ ba, hợp đồng lao động. Đây là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa người lao động và người sử dụng lao động về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động.
Nội dung và hình thức của hợp đồng lao động thường tuân theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận lao động Việt Nam đến làm việc. Ngoài ra, lao động nữ Việt Nam còn làm việc ở nước ngoài theo hình thức hợp đồng cá nhân. Về tính chất, hợp đồng cá nhân là sự thỏa thuận trực tiếp bằng văn bản giữa người lao động với bên nước ngoài về việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Bên nước ngoài được hiểu là một bên của hợp đồng là doanh nghiệp, tổ chức hoặc hộ gia đình, cá nhân.
Thời hạn hợp đồng thường được ký với thời hạn từ 02 đến 03 năm. Sau khi hết hạn hợp đồng, người lao động có thể được gia hạn thêm một kỳ hạn nữa hoặc thanh lý hợp đồng. Hiện nay các tranh chấp lao động về quyền, lợi ích liên quan đến lao động nữ khi đi làm việc tại nước ngoài phát sinh nhiều nhất ở hình thức làm việc theo hợp đồng với doanh nghiệp dịch vụ đưa người đi làm việc ở nước ngoài và hợp đồng cá nhân.Đặc điểm của lao động nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Về địa vị pháp lý: Lao động nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cùng một lúc chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau gồm các quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước người lao động đến làm việc, ngoài ra còn có các Điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam, nước tiếp nhận lao động là thành viên. Về độ tuổi: Độ tuổi trung bình của lao động nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là khá trẻ từ 18 đến 35 tuổi.
Về trình độ văn hóa: Lao động nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phần lớn là lao động phổ thông, số lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ nhỏ. Lao động nữ có khả năng sử dụng ngoại ngữ giao tiếp trong quá trình làm việc và tiếp cận thông tin tại nước sở tại tốt chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu là lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao. Tỷ lệ lao động nữ có kiến thức pháp luật, nắm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của bản thân khi làm việc ở nước ngoài không nhiều, phần lớn lao động nữ thiếu kiến thức pháp luật và khả năng giao tiếp, kỹ năng tự bảo vệ mình trước các rủi ro trước, trong và cả sau quá trình làm việc ở nước ngoài. Về thành phần lao động: Lao động xuất thân từ nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ lệ lớn.
Về cơ cấu ngành nghề: Theo thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), từ năm 2000 đến năm 2010 có khoảng 251.000 lao động nữ đi làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, tập trung chủ yếu trong 12 ngành phục vụ cá nhân và xã hội (52,95%), công nghiệp (42,2%), nông nghiệp, thủy sản, lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ lệ nhỏ [10]. Lao động nữ Việt Nam được các doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài ưa thích bởi tính cần cù, chịu khó, sáng tạo và nhanh chóng hòa nhập với môi trường sinh hoạt và làm việc. Bên cạnh đó giá thuê nhân công rẻ cũng là một lợi thế của lao động Việt Nam nói chung và lao động nữ nói riêng tại thị trường nước ngoài.
Trên thực tế, ra nước ngoài lao động là nhu cầu có thật của một bộ phận phụ nữ nhằm cải thiện cuộc sống gia đình. Dù được đánh giá là cần cù, nắm bắt công việc nhanh,… nhưng đa phần các chị em xuất phát từ nông thôn, trình độ văn hóa và tay nghề còn thấp, kỷ luật lao động chưa cao, kỹ năng giao tiếp, kiến thức pháp luật và xã hội hạn chế cũng đang là trở ngại rất lớn ảnh hưởng đến chất lượng lao động cũng như sự hòa nhập giữa lao động nữ với môi trường làm việc ở nước ngoài. Đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng lao động nữ bị xâm phạm lao động, quyền và lợi ích chính đáng bị vi phạm, trong thời gian gần đây thì số vụ việc phát sinh tăng theo cấp số nhân. Thực trạng lao động nữ tại một số thị trường lao động nước ngoài Đài Loan, Malaysia và Hàn Quốc là ba thị trường xuất khẩu lao động trọng điểm của nước ta, nơi có số lao động nữ Việt Nam tập trung làm việc nhiều nhất.
Ngoại trừ Hàn Quốc, thị trường Đài Loan và Malaysia có yêu cầu chất lượng nguồn lao động không cao nên phù hợp với số đông trình độ của lao động nước ta, hơn nữa chi phí để đưa một người lao động đến làm việc cũng ít hơn các thị trường khác. Theo Báo cáo của Cục Quản lý lao động ngoài nước, tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2011, Việt Nam đã đưa đi khoảng 45.862 lao động sang làm 13 việc ở nước ngoài, trong đó có 15.514 lao động nữ. Trong đó thị trường Đài Loan đạt 17.245 nữ); Hàn Quốc đạt 11.260 nữ), Nhật Bản 2.833 lao động (718 nữ); Ả rập xê út 2.416 lao động (24 nữ); Lào 2.162 lao động (776 nữ); Campuchia 1.394 lao động (546 nữ); Macao 1.044 nữ),… Ba thị trường lao động nêu trên có cơ cấu nghề nghiệp đa dạng nhưng mức thu nhập trung bình hoặc trung bình khá. Điều kiện làm việc cũng như điều kiện chăm sóc sức khoẻ, bảo đảm các quyền lợi của lao động nữ cũng không cao.
Tỷ lệ lao động nữ bị cưỡng bức, xâm phạm lao động ở các thị trường này cũng cao hơn thị trường lao động khác. Malaysia Malaysia được xem là thị trường dễ tính vì không yêu cầu lao động có trình độ quá cao. Lĩnh vực nghề nghiệp có số lượng người lao động Việt Nam tập trung làm việc khá đông là may mặc, lắp ráp linh kiện điện tử, cơ khí, chế biến gỗ, nông nghiệp. Việt Nam bắt đầu đưa lao động sang làm việc tại Malaysia từ năm 2002.
Để đưa lao động sang làm việc tại Malaysia một cách có trật tự, phù hợp với luật pháp hai nước, ngày 01/12/2003, Việt Nam và Malaysia đã ký Bản Ghi nhớ về tuyển dụng lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaysia. Từ đó đến nay, đã có khoảng 190.000 lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaysia, trong đó lao động Việt Nam làm việc tại Malaysia tập trung chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất chế tạo (khoảng 70%); số lao động Việt Nam làm việc trong các ngành nghề khác chỉ chiếm khoảng 30% [10]. Số lượng lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaysia từ năm 2002 đến 2011 [10]: 14 Xuất cảnh STT Năm Tổng số Nữ 1 2002 19.502 10 5 tháng đầu năm 2011 4.047 Chính phủ Malaysia mới điều chỉnh thu nhập và các chế độ đãi ngộ đối với lao động nước ngoài tại nước này, trong đó có lao động Việt Nam. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế đang tồn tại ở thị trường lao động nhiều tiềm năng này dẫn đến quyền lợi của người lao động chưa được đảm bảo đúng mức như: Thứ nhất, một số doanh nghiệp sử dụng lao động chưa đảm bảo cơ sở vật chất để tiếp nhận lao động: điều kiện ăn ở kém, không hợp vệ sinh; điều kiện làm việc chưa đảm bảo an toàn lao động,… dẫn đến phát sinh nhiều khiếu kiện của người lao động.
Để ngăn ngừa tình trạng này, các doanh nghiệp Việt Nam cần khảo sát kỹ các điều kiện tiếp nhận lao động, phối hợp với doanh nghiệp tiếp nhận chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết trước khi đưa lao động đến làm việc.