CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ PHÂN PHỐI TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP Nội dung của chương trình bày và làm rõ các nội dung về tiền lương và phân phối tiền lương trong doanh nghiệp: khái niệm, mục tiêu, vai trò, hình thức trả lương và nguyên tắc phân phối tiền lương trong doanh nghiệp,…Bên cạnh đó đưa ra các vấn đề phân phối tiền lương trong doanh nghiệp viễn thông. Tổng quan về tiền lương 1. Khái niệm về tiền lương [1], [6], [9] Tiền lương là một phạm trù kinh tế, nó là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành một công việc gì đó một cách cố định và thường xuyên theo đơn vị thời gian thông qua mối quan hệ thuê mướn. Trên thực tế, khái niệm và cơ cấu tiền lương rất đa dạng, nó được nhìn nhận theo nhiều quan điểm khác nhau phụ thuộc vào từng thời kỳ và cách tiếp cận.
Tiền lương là số tiền trả cho người lao động một cách cố định và thường xuyên theo một đơn vị thời gian (tuần, tháng, năm). Tiền lương thường được trả cho các cán bộ quản lý và các nhân viên chuyên môn, kỹ thuật. Theo quan điểm cải cách tiền lương năm 1993 của Việt Nam. “tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”.
Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Ngoài ra, các chế độ phụ cấp, tiền thưởng, khuyến khích có thể được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hay quy chế của doanh nghiệp. Như vậy, ở Việt Nam, có sự phân biệt các yếu trong tổng thu nhập của người lao động từ công việc. Tiền lương gồm có: Tiền lương cơ bản, phụ cấp, tiền thưởng, phúc lợi Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, TL được định nghĩa là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được nhà nước phân 6 phối cho NLĐ một cách có kế hoạch theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đã cống hiến.
Trong nền kinh tế thị trường, khi SLĐ được thừa nhận là hàng hóa, thì TL được hiểu là giá cả SLĐ, biểu hiện bằng tiền của giá trị SLĐ, là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho NLĐ theo giá trị SLĐ mà họ đã hao phí trên cơ sở thỏa thuận. Giá trị SLĐ được xác định gián tiếp thông qua giá trị tư liệu tiêu dùng được sử dụng để tái tạo SLĐ đã tiêu hao trong quá trình lao động. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần như nước ta hiện nay, có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất thì phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần, khu vực kinh tế. Như vậy có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm TL nhưng trong phạm vi luận văn này có thể hiểu chung TL là một số lượng tiền tệ mà NLĐ nhận được từ người sử dụng lao động tương ứng với số lượng và chất lượng SLĐ mà họ đã tiêu hao trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc công việc được giao trong một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở hợp đồng lao động đã ký kết (bằng văn bản hoặc bằng miệng), phù hợp với quan hệ cung cầu trên thị trường lao động và các quy định của pháp luật hiện hành.
Về bản chất tiền lương, tiền công đều là giá cả SLĐ, và còn thể hiện mối quan hệ lợi ích trực tiếp lâu dài giữa người sử dụng lao động và NLĐ. Khi trao đổi mua bán SLĐ, NLĐ chỉ bán quyền sử dụng chứ không bán quyền sở hữu nó, do vậy quan hệ mua bán không chấm dứt ngay sau mà phải là một mối quan hệ lâu dài, mặt khác giá trị sử dụng của hàng hóa SLĐ có thể tăng hoặc giảm tùy thuộc vào cách trả giá của người mua. Chức năng của tiền lương [1], [9], [12] ✓ Chức năng thước đo giá trị SLĐ Tiền lương biểu thị giá cả sức lao động có nghĩa là nó là thước đo để xác định mức tiền công các loại lao động, là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm. Người LĐ được trả lương không giống nhau vì mức độ hao phí SLĐ trong quá trình lao động và giá trị mà SLĐ của họ mang lại cho người 7 sử dụng lao động là không giống nhau.
Mỗi việc làm có mức TL thị trường khác nhau do mức cầu về việc làm đó trên thị trường lao động; đặc điểm của việc làm đó về kỹ thuật và công nghệ; các yêu cầu của việc làm đó về năng lực và phẩm chất của NLĐ. Điều này chứng tỏ TL đang thực hiện chức năng của mình là phản ánh giá trị SLĐ. ✓ Chức năng tái sản xuất SLĐ Thu nhập của người lao động dưới hình thức tiền lương được sử dụng một phần đáng kể vào việc tái sản xuất giản đơn sức lao động mà họ đã bỏ ra trong quá trình lao động nhằm mục đích duy trì năng lực làm việc lâu dài và có hiệu quả cho quá trình sau. Tiền lương của người lao động là nguồn sống chủ yếu không chỉ của người lao động mà còn phải đảm bảo cuộc sống của các thành viên trong gia đình họ.
Như vậy tiền lương cần phải bảo đảm cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng cả về chiều sâu lẫn chiều rộng sức lao động. Để khôi phục khả năng làm việc, NLĐ phải ăn uống nghỉ ngơi, phải được thư giãn giải trí. Để phát triển bản thân NLĐ cần học tập, tích lũy, rèn luyện kỹ năng làm việc. Và NLĐ sử dụng TL để tiêu dùng cho tất cả các hoạt động trên nhằm duy trì, mở rộng phát triển sức lực và trí lực của mình, để có thể tiếp tục tham gia vào quá trình sản xuất.
Do vậy TL có chức năng tái xản xuất SLĐ, và muốn thực hiện được chức năng này thì TL phải đủ lớn, tối thiểu phải đủ mua sắm một lượng giá trị tư liệu sinh hoạt ngang bằng giá trị SLĐ mà NLĐ đã hao phí. ✓ Chức năng kích thích sản xuất Trả lương một cách hợp lý và khoa học sẽ là đòn bẩy quan trọng hữu ích nhằm kích thích người lao động làm việc một cách hiệu quả. TL là khoản thu nhập chính quan trọng nhất của NLĐ dùng để thỏa mãn các nhu cầu của họ mặt khác họ không chỉ chi tiêu cho bản thân mà còn cho các thành viên trong gia đình. Do vậy mức TL là một trong những quan tâm hàng đầu của NLĐ, là động cơ của NLĐ, họ luôn mong muốn lương cao rồi cao hơn nữa để ngày một nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bản thân và gia đình.
TL còn được xem như bằng chứng thể hiện 8 địa vị, uy tín NLĐ trong gia đình, phản ánh mức độ đóng góp của NLĐ cho DN và xã hội. Do vậy TL cao sẽ có tác động thúc đẩy NLĐ làm việc, kích thích sản xuất. TL còn có những tác động nhất định đến tinh thần làm việc, thái độ và sự gắn bó của NLĐ đối với tổ chức. Khi NLĐ làm việc đạt hiệu quả cao phải được trả mức lương xứng đáng với hiệu quả đó mới tạo động lực, kích thích họ không ngừng nâng cao kiến thức và tay nghề của mình nhằm nâng cao NSLĐ và hiệu quả làm việc để đạt được mức lương cao hơn nữa.
Với chức năng này TL đóng vai trò như một công cụ để quản lý, khích thích và thu hút NLĐ, giúp thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong DN, từ đó thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân chủ và văn minh. Ngoài ra, chức năng này còn thể hiện ở chỗ tạo nên sự công bằng trong xã hội. Để thực hiện được chức năng này đòi hỏi TL phải thực hiện được hai chức năng trên, tức là phải đủ lớn, phải gắn với kết quả lao động, với hao phí SLĐ của cá nhân và hiệu quả SXKD của DN. ✓ Chức năng tích lũy Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro.
TL là bộ phận thu nhập chính, cơ sở của tiêu dùng - tích lũy, và đầu tư cho giáo dục y tế của các cá nhân và gia đình. TL đóng góp một phần đáng kể vào Ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập và thuế giá trị gia tăng khi mua bán hàng hóa dịch vụ. NLĐ sử dụng TL để duy trì cuộc sống, đầu tư cho con cái đầu tư cho việc học tập nâng cao trình độ, đầu tư kinh doanh …Tuy nhiên NLĐ không sử dụng hết thu nhập của mình mà thực hiện tích lũy để dự phòng cuộc sống sau này nếu có rủi ro không may xảy ra, hoặc khi không còn làm việc nữa. Các hình thức tích lũy như việc mua các loại bảo hiểm, gửu tiết kiệm.Với chức năng này TL đóng vai trò là công cụ để nhà nước điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, điều tiết giá cả nhằm đảm bảo đời sống dân cư.
Mục tiêu của tiền lương [12] Trong thực tế mỗi doanh nghiệp có những mục tiêu khác nhau trong thiết lập một chính sách tiền lương, và có thể các thứ tự ưu tiên các mục tiêu cũng không giống nhau. Nhưng nhìn chung thì các mục tiêu cần phải đạt được của một hệ thống tịền lương bao gồm: ✓ Thu hút được các nhân viên tài năng. Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng mong muốn có được một nguồn nhân lực chất lượng cao để tăng khả năng cạnh tranh và thích ứng với sự thay đổi của môi trường. Thu hút được những người tài năng về làm việc cho tổ chức luôn là một mục tiêu hàng đầu trong chính sách nhân sự của các tổ chức.
Để thực hiện mục tiêu này tiền lương cũng chưa phải là yếu tố quyết định song nó luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp doanh nghiệp thực hiện mục tiêu của mình. Các nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp trả lương cao hơn mức trung bình trên thị trường thường thành công hơn trong kinh doanh, bởi họ thu hút được nguồn nhân lực tốt hơn, tạo ra động lực mạnh hơn. ✓ Duy trì được đội ngũ nhân viên giỏi.