phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề. - Trước hết phải nói đến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890- 1969) – Về công tác cán bộ, Người đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Mọi thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”. - Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã chắt lọc những vấn đề tinh tuý nhất của hầu hết các công trình khoa học về quản lý của nước ngoài để thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình về những vấn đề về phẩm chất và năng lực của người quản lý. Đó là các công trình như: Cơ sở của khoa học quản lý của Nguyễn Minh Đạo [16]; Lý thuyết quản lý của Đỗ Hoàng Toàn; và Khoa học tổ chức và quản lý- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Văn Bình.
- Đứng ở góc độ lý luận quản lý giáo dục, các nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận quản lý trường học chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận giáo dục học. Hầu hết các cuốn Giáo dục học của các tác giả Việt Nam có đề cập tới thành tố lực lượng giáo dục trong đó có giới thiệu khái quát về chất lượng và 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phương thức nâng cao chất lượng lực lượng giáo dục trong đó có cán bộ quản lý trường học. Ví dụ: Một số công trình khoa học tiêu biểu như: Quá trình sư phạm- Bản chất, cấu trúc và tính quy luật của Hà Thế Ngữ ; Giáo dục học đại cương của Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê [21]; Kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Nguyễn Đức Chính chủ biên [6]. Xây dựng đội ngũ cán bộ là một vấn đề được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.
Nhiều luận văn tốt nghiệp cũng đã nghiên cứu về vấn đề này tuy nhiên thông qua các đề tài nghiên cứu chỉ tập chung chủ yếu là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và xây dựng phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên từ các cấp từ mầm non, tiểu học, trung học phổ thông, đại học chuyên nghiệp…. còn đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ làm các công việc trực tiếp tại các phòng ban thì còn rất ít. Nhìn chung, phạm trù chất lượng cán bộ quản lý và nâng cao chất lượng cán bộ quản lý đã được nhiều tác giả đề cập tới tại các công trình nghiên cứu của nước ngoài và trong nước, nhưng các công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng ban, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ phòng, ban tại trường Đại học Lương Thế Vinh trong giai đoạn hiện nay thì chưa có đề tài nào nghiên cứu.2 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài.1 Khái niệm về quản lí. Có rất nhiều quan niệm, có những định nghĩa khác nhau về quản lý nhưng xét quản lý với tư cách là một hoạt động có thể định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”.
Theo định nghĩa của Harold Koontz (American): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường mà trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “ Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.
Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Nguyễn Quốc Chí và PGS.Ts Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã viết: “Quản lý là hành động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5].Ts Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý là tác độngcó mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [30]. Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể đến khách thể quản lí nhằm đạt được mục tiêu chung” [2]. Mạc Văn Trang thì: “Quản lý là sự tác động có ý thức cuẩ chủ thể quản lí để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý, phù hợp với quy luật của khách quan” [34].
Qua các định nghĩa trên, chúng tôi thấy khái niệm quản lý bao gồm các nội hàm chủ yếu: Quản lý là hoạt động được tiến hành trong một tổ chức; với các tác động có tính hướng đích của chủ thể quản lý, nhằm phối hợp nỗ lực của các cá nhân để thực hiện mục tiêu của tổ chức. Như vậy, có thể nhận thấy những định nghĩa trên có một số điểm chung cần lưu ý đó là: - Quản lý bao giờ cũng là một tác động mang tính hướng đích. - Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lí và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh- phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc và thuyết phục. Quản lý là quá trình vận dụng những quy luật khách quan một cách sáng tạo.2 Khái niệm về quản lý giáo dục.
Cũng có nhiều cách diễn đạt khác nhau của các nhà khoa học về thuật ngữ quản lý giáo dục: - Theo M.I Kônzacôvi: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội như những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em”. Nguyễn Ngọc Quang viết: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các chính sách của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội tụ là qúa trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [30]. Ts Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người.
Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [2]. Trần Kiểm thì: “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [24, tr38]. - Theo Điều 14 của Luật giáo dục (2005) thì: Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục. Từ các định nghĩa và quy định chúng tôi thấy quản lý giáo dục được hiểu theo các cấp độ vĩ mô và vi mô: Đối với cấp độ vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý giáo dục đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xẫ hội đặt ra cho ngành giáo dục; trong đó có hoạt động tự giác của chủ thể quản lí nhằm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội.
Hiểu theo nghĩa rộng nhất của Quản lý giáo dục chính là tổ chức quản lý hệ thống nền giáo dục của Nhà nước, bao gồm việc xây dựng chiến lược phát triển tổ chức; cơ cấu hệ thống trường; ngành giáo dục- đào tạo nhằm thoả mãn nhu cầu, nguyện vọng học tập và phát triển của tất cả mọi người. Đó là sự phát triển nguồn lực người- đó là phát triển toàn diện con người. Mặt thứ 2 của quản lý vĩ mô là xây dựng một hệ thống mục tiêu cho các cấp học, ngành học phù hợp với lứa tuổi, ngành nghề nhưng đều nhằm thực hiện mục đích giáo dục của xã hội trong một giai đoạn tương ứng với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nhằm nâng cao chất lượng người lao động, đó chính là con người phát triển toàn diện. Như vậy quản lý vĩ mô có 2 mục tiêu: Phát triển con người (nhằm khai thác tối đa, đồng bộ sự phát triển tài nguyên người, phát triển, khai thác về số lượng).