Chương 1: Cơ sở lí luận của loại từ trong tiếng Việt và của lượng từ trong tiếng Hán hiện đại. e Chương 2: Loại từ tiếng Việt và lượng từ tiếng Hán hiện đại qua các tác phẩm văn chương e Chương 3: Một vài điểm tương đồng và dị biệt giữa loại từ và lượng từ. Loại từ Trong Ngữ pháp tiếng Việt(1989.203) thuật ngữ loại từ với các đặc trưng về từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng được nêu ra khi tác giả miêu tả tổ chức của danh ngữ. Một danh ngữ gồm có bộ phận trung tâm - do danh từ đảm nhiệm - chiếm.
vị trí giữa lòng đoản ngữ và các thành tố phụ (gọi là định tố) phân bố ở trước và sau danh từ tạo nên phần đầu và phần cuối của đoản ngữ. Ví dụ: phần đầu phần trung tâm phần cuối Ba người này Cả hai tỉnh nhỏ ấy Tất cả những cái chủ trương chính xác đó 'Về mặt từ loại, định tố đầu nhiều trường hợp đều do những từ có nghĩa không chân thật đảm nhiệm trong khi định tố cuối phần lớn do những từ có nghĩa chân thật đảm nhiệm. Về mặt số lượng, những từ làm định tố đầu có số lượng hạn chế nên có thể lập một danh sách trong khi số lượng từ có khả năng làm thành tố cuối rất lớn. 'Về mặt tổ chức, các định tố đầu tuyệt đại đa số không có khả năng phát triển thành.
một đoản ngữ mới như định tố cuối. Về mặt phân bố vị trí, mỗi kiểu định tố bao. gồm một số từ có chung ý nghĩa luôn giữ một vị trí ở phần định tố đầu trong khi không có sự tương tự như thế ở phần định tố sau. Về mặt ý nghĩa, định tố đầu không.
gây tác động đến ngoại diên của khái niệm nêu ở danh từ trong khi định tố cuối lại tạo được tác động đó. Đặc trưng ngữ pháp của loại từ Từ những kết luận như thế rút ra từ danh ngữ, tác giả cho rằng loại từ, nhóm từ thành viên của định tố đầu, chỉ là thành phần phụ bổ nghĩa cho danh từ đi sau. Nhưng khi xem xét, so sánh các danh ngữ có phần định tố đầu tổ chức tương tự nhau: từ chỉ số lượng, từ chỉ đơn vị kế toán, từ chỉ sự vật cần kế toán như: 12 1)_ Một anh sinh viên, một cuốn sách. 2) Một đoàn sinh viết, một tạ sách Tác giả nhận thấy có sự mâu thuẫn trong cách nhìn nhận trước đây đối với loại từ.
Trong trường hợp (1) anh, cuốn luôn bị xem là thành tố phụ trong khi ở trường hợp (2) đoàn, íg- do được đánh giá là những thực từ, lại trở thành thành phần trung tâm trong danh ngữ. Sự mâu thuẫn cũng diễn ra tương tự nếu so sánh các kiêu. câu hỏi anh nào?, cuốn gì? với kiêu câu trả lời anh sinh viên, cuốn sách. Anh, cuốn trong câu hỏi được xem là thành phần trung tâm trong khi sinh vién, sách lại là thành phần trung tâm trong các câu trả lời tương ứng với câu hỏi.
Đề giải quyết sự “mâu thuẫn lớn” đó, tác giả đưa ra giải pháp hai trung tâm, trong đó các từ chỉ đơn vị, trong đó có loại từ, là trung tâm ngữ pháp trong danh ngữ (gọi là T1). Các danh từ đơn vị ở vị trí TI luôn có thể kết hợp với từ chỉ số lượng nên thuộc về tiểu loại danh từ trực tiếp đếm được đối lập với tiêu loại danh từ không trực tiếp đếm được là những danh từ nắm giữ vai trò trung tâm về ngữ nghĩa (gọi là T2). Danh từ chỉ đơn vị được chia thành danh từ chỉ đơn vị tự nhiên (gồm có người, động thực vật, khái niệm trừu tượng) và danh từ chỉ đơn vị quy ước (gồm có cân, thước, sảo. Danh từ nào chỉ có thể kết hợp với danh từ chỉ đơn vị quy ước được gọi là danh từ không.
biệt loại đối lập với danh từ có biệt loại là những danh từ có thể kết hợp được với danh từ đơn vị quy ước lẫn danh từ đơn vị tự nhiên. Từ chỉ xuất cái luôn ở vị trí trước danh từ chỉ đơn vị, đây là tiêu chí để phân loai danh từ chỉ xuất được đối lập với danh từ không chỉ xuất được. Trong tiếng Việt, các danh từ ở T1 là những danh từ chỉ xuất được trong khi các danh từ ở T2 không chỉ xuất được (trừ nhóm danh từ chỉ chất liệu). Những từ chỉ số lượng những, các khi kết hợp với danh từ chỉ đơn vị sẽ tạo ý nghĩa ngữ pháp số nhiều đối lập với những từ mội, zề-rô chỉ số ít.
Danh từ không có định tố cái mà cũng không có từ chỉ đơn vị đi trước thường không kết hợp được với định tố chỉ số lượng, danh từ trong trường hợp này sẽ mang ý nghĩa số trung. Danh từ chỉ đơn vị có thể đảm đương vai trò làm thành phần câu như một danh từ thường: có thể làm chủ tố, làm bổ tố, định tố, vị tố. Chúng cũng có thể trở 13 thành trung tâm của một danh ngữ với đầy đủ mọi thành tố phụ của danh ngữ. Nhìn chung, từ chỉ số lượng và danh từ không thể trực tiếp kết hợp với nhau mà phải có loại từ đứng trước danh từ tuy cũng có một số trường hợp ngoại lệ.
Chẳng hạn không thể nói vài muối nhưng lại có thê nói vài kuyết điểm. Như vậy, theo Nguyễn Tài Cẩn, loại từ là nhóm từ giữ vị trí trung tâm ngữ pháp trong danh ngữ (T1), có chức năng tính đơn vị sự vật do danh từ biểu thị, tạo. các thế đối lập có tác dụng phân tiểu loại cho danh từ như: trực tiếp đếm được/. không trực tiếp đếm được, biệt loại / không biệt loại, chỉ xuất được/ không chỉ xuất được, số ít /số nhiều /số trung dựa vào khả năng kết hợp của danh từ với các định tố đầu trong danh ngữ.
Đặc trưng từ vựng — ngữ nghĩa của loại tie Quan điểm cho loại từ là thành phần phụ xuất phát từ việc xem các từ này là hư từ, chúng không tác động đến ngoại diên của khái niệm nêu ở danh từ trung tâm. Khi nói Ba anh sinh viên ấy hoặc Cuốn sách này thì sinh viên và sách mới là sự vật được nêu ở danh ngữ, và từ chỉ đơn vị anh, cuồn „ nếu có thay đồi cũng không làm thay đổi nghĩa biểu niệm của danh từ. Vì vậy khi xác định phần trung tâm của danh ngữ, trong năm 1960, Nguyễn Tài Cân đã cho rằng anh, cuốn chỉ là thành tố phụ bên cạnh bộ phận trung tâm sinh viền, sách và anh, cuồn là hư từ. Khi tham gia biên soạn sách Ngữ pháp phổ thông dạy thí nghiệm ở Hà Nôi (1963), tác giả đã đánh giá lại vai trò của danh từ chỉ đơn vị trong trung tâm danh ngữ và mối quan hệ giữa danh từ chỉ đơn vị quy ước và danh từ chỉ đơn vị tự nhiên trong tiếng.
đưa ra kết luận loại từ là thực từ và là một danh từ tuy có phần trống nghĩa “7y; rằng chỉ những khái niệm có nội hàm nghèo nàn và có ngoại diện rộng nhưng chúng vẫn còn là những từ chỉ khái niệm sự vật” (Tr. Chưa kể trong tiếng Việt, ngoài các từ chuyên dùng để chỉ đơn vị còn có các từ khác có thể lâm thời dùng làm từ chỉ đơn vị. Phần lớn các từ lâm thời này có nguồn gốc danh từ (như lá, cây, cốc, thúng.), một số ít có nguồn gốc động từ (như xâu (rong một xâu cá, gánh trong một gánh lúa. Từ chỉ đơn vị có thê chia thành hai tiêu loại: tiểu loại một là các nhóm từ chỉ đơn vị tự nhiên, có tính cá thể (như người, tên, đứa, thằng, anh, 14 chị.) và các nhóm từ chỉ thực vật, đồ đạc, khái niệm trừu tượng (như con, cây, quả, cái, chiếc, bức, tắm,.
Tiểu loại này còn có danh xưng loại từ vì ngoài chức. năng chỉ đơn vị tự nhiên các từ này còn có chức năng mô tả, phân định sự vật thành từng loại dựa vào các đặc trưng của sự vật. Tiểu loại thứ hai gồm các nhóm từ chỉ don vị quy ước.Tiểu loại này gồm những từ chỉ đơn vị chính xác (như cân, tạ, thước, mẫu.), những từ chỉ đơn vị không chính xác (miếng, cục, đoạn, bầy, dãy, loại. Sự phối hợp giữa danh từ đơn vị và danh từ thường được dựa trên một số nguyên tắc: danh từ chỉ chất liệu chỉ đi được với từ chỉ đơn vị quy ước (một miếng.
thịt, một cốc nước.), danh từ chỉ người, động vật, đồ đạc có thê đi với cả hai loại từ chỉ đơn vị (có thể đi với loại từ như tổ hợp mội cậu học sinh, một con mèo, một cây tre, một cuốc sách.hoặc đi với từ chỉ đơn vị quy ước như một đoàn học sinh, một bầy mẻo, một tạ sách. Việc phối hợp loại từ và các nhóm danh từ không chỉ người có sự tương ứng chặt chẽ hơn. Loại từ con thường phối hợp với danh từ chỉ động vật trong khi cậy, gu thường đi trước danh từ chỉ thực vật, cuốn chỉ dùng để phối hợp với các danh từ chỉ thư tịch, ngói dùng cho các danh từ chỉ về nhà cửa. Do chỉ có khoảng 40 loại từ và sự phối hợp giữa loại từ và danh từ có sự tương ứng tương đối chặt chẽ nên có thể lập ra một danh sách liệt kê các nhóm danh từ và sự tương ứng của từng nhóm với một loại từ thích hợp.
Chẳng hạn có nhóm danh từ tương ứng với loại từ cái, nhóm tương ứng với loại từ con, cây, hoặc bức, quyển v.Tuy nhiên ranh giới giữa các nhóm có những vấn đề cần chú ý: Có những trường hợp phạm vi của hai nhóm hoàn toàn tách rời nhau. Chẳng hạn nhóm danh từ phối hợp với 4 sẽ không bao giờ phối hợp với ngồi. Có những trường phạm vi của hai nhóm không hoàn toàn tách rời nhau, một số danh từ trong nhóm này có thê phối hợp với loại từ được xem là tương ứng với nhóm khác. Ví dụ loại từ ức vốn được dùng đề phối hợp với các danh từ đưởng, trướng, vách, ảnh, màn, địa đô, các danh từ này cũng có thê dùng đề phối hợp vối loại từ ẩm 15 Có những phạm vi của nhóm này hoàn toàn lồng vào phạm vi của nhóm khác.
Ví dụ các danh từ đi với lọai từ cây như cột, bút, sào, đàn, súng, chối, gây hoàn toàn có thể phối hợp với loại từ cái Kết quả là một danh từ có thể thuộc về nhiều nhóm khác nhau, có thê phối hợp với nhiều loại từ khác nhau. Quyết định chọn một loại từ đê phối hợp cho các danh.