lời mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tác động của tăng trƣởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập Luan van 4 Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Tác động của tăng trƣởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập của thành phố Đà Nẵng Chƣơng 4: Bàn luận và hàm ý chính sách Luan van 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ TỚI BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1. Khái niệm về tăng trƣởng kinh tế Tăng trƣởng kinh tế đƣợc định nghĩa là sự gia tăng mức sản xuất của nền kinh tế theo thời gian. Tốc độ tăng trƣởng nhanh có th làm cho một quốc gia nghèo đuổi kịp và vƣợt qua quốc gia giàu hơn mình.
Những nƣớc tăng trƣởng nhanh, thu nhập bình quân đầu ngƣời đƣợc nâng cao sẽ tạo điều kiện cho xã hội phát tri n, đời sống vật chất và văn hóa của công chúng có cơ hội đƣợc tăng lên. Ngƣợc lại, một nƣớc tăng trƣởng chậm, thu nhập thấp thì sẽ phải đƣơng đầu với những mâu thuẫn liên miên trong quá trình chọn lựa các mục tiêu. Điều đó lý giải vì sao tất cả các quốc gia đều quan tâm đến vấn đề tăng trƣởng. Tăng trƣởng kinh tế là sự gia tăng về sản lƣợng hay thu nhập thực tế đƣợc tính cho toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một ngành) trong một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là một năm).
Tăng trƣởng kinh tế có th bi u thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trƣởng) ho c số tƣơng đối (tỷ lệ tăng trƣởng). Trong phân tích kinh tế, đ phản ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trƣởng kinh tế thƣờng đƣợc dùng. Đó là tỷ lệ phần trăm giữa sản lƣợng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lƣợng của thời kỳ trƣớc đó ho c thời kỳ gốc. Có nhiều nghiên cứu đã bàn luận tới khái niệm này nhƣng ở đây xin đề cập tới một số nghiên cứu nhất định.
Trong nghiên cứu của Paul Saumelson, W. N (1989) tuy không nhắc tới Luan van 6 khái niệm về tăng trƣởng kinh tế một cách trực tiếp. Ở đây tác giả nhắc tới mức sản lƣợng của nền kinh tế đạt đƣợc khi lựa chọn phân bổ nguồn lực của nền kinh tế trong một khoảng thời gian, nhƣng mức sản lƣợng này xoay quanh mức sản lƣợng tự nhiên của nền kinh tế tƣơng ứng với năng lực sản xuất của nền kinh tế. Năng lực sản xuất của nền kinh tế ngày càng mở rộng là xu thế dài hạn và do vậy sản lƣợng cũng lớn lên.
Sau này Mankiw, N.G (2000) khi nói về các biến số cơ bản của kinh tế vĩ mô đã cho rằng một biến số rất quan trọng là kết quả hoạt động kinh tế của quốc gia. Kết quả các hoạt động kinh tế này đƣợc tạo ra bởi kết quả hoạt động sản xuất của tất cả ngƣời sản xuất trong nền kinh tế nhƣ doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình…Hoạt động sản xuất của họ là quá trình sử dụng các nguồn lực nhƣ tài nguyên, vốn, lao động, công nghệ …kết hợp với nhau đ tạo ra sản lƣợng. Quá trình này họ t ch lũy mở rộng đ tăng năng lực sản xuất và tăng dần sản lƣợng. Kết quả hoạt động của nền kinh tế ngày càng tăng lên theo thời gian hay tăng trưởng kinh tế.
Cả hai nghiên cứu này đều khẳng định mức sản lƣợng của nền kinh tế hay kết quả hoạt động kinh tế của nền kinh tế đƣợc phản ánh qua giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Điều này cũng hàm ý rằng tăng trƣởng kinh tế đƣợc th hiện qua sự gia tăng của giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP) theo thời gian và theo giá so sánh. Theo Mankiw (2000) xu hƣớng thay đổi của GDP thực tế xoay quanh mức sản lƣợng tự nhiên của nền kinh tế mà trong đó đƣờng xu thế của sản lƣợng tự nhiên dốc lên theo xu thế thay đổi năng lực sản xuất ngày càng mở rộng của nền kinh tế trong dài hạn. Trong ngắn hạn, mức sản lƣợng thực tế cũng có th cao hơn hay thấp hơn mức sản lƣợng tự nhiên do tác động từ các cú sốc cung hay cầu, khi đó sẽ xuất hiện các chu kỳ biến động kinh tế.
Các Luan van 7 chu kỳ biến động sẽ kết thúc và nền kinh tế sẽ cân bằng trở lại theo cơ chế tự cần bằng hay có các biện pháp can thiệp của chính phủ. Nhƣ vậy trong dài hạn xu thế tăng trƣởng kinh tế vẫn th hiện một sự đi lên và ổn định nhƣ kết quả của quá trình mở rộng năng lực sản xuất không ngừng. Trên cở sở cách tiếp cận thiên về chất lƣợng, Vinod et al. (2000) đã cho rằng tăng trƣởng kinh tế là quá trình duy trì tốc độ tăng trƣởng GDP trong dài hạn và thành quả của nó cần phải đƣợc sử dụng đ cải thiện phúc lợi con ngƣời.
Theo nhóm tác giả này tăng trƣởng gắn với sự gia tăng thu nhập bình quân đầu ngƣời nhƣng phải đi liền với việc duy trì tăng trƣởng GDP cao có th trong dài hạn và cải thiện chất lƣợng cuộc sống. Cùng với các nghiên cứu của thế giới các nghiên cứu của Việt Nam cũng đề cập tới điều này. Ở Việt Nam cũng có những tác giả trong nghiên cứu của mình đã bàn tới khái niệm tăng trƣởng kinh tế. Theo Vũ Thị Ngọc Phùng (2006) “Tăng trƣởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là một năm).
Sự gia tăng th hiện ở quy mô và tốc độ.Thu nhập của nền kinh tế có th bi u hiện dƣới dạng hiện vật ho c giá trị. Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và đƣợc tính cho toàn th nền kinh tế ho c t nh bình quân trên đầu ngƣời.” Hay theo Bùi Quang Bình (2012) “Tăng trƣởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lƣợng của nền kinh tế (GDP) hay sản lƣợng của nền kinh tế t nh trên đầu ngƣời (GDP ngƣời) qua một thời gian nhất định. Thƣờng đƣợc phản ảnh qua mức tăng trƣởng và tỷ lệ tăng trƣởng.” Lê Xuân Bá, Nguy n Thị Tuệ Anh (2006) cho rằng tăng trƣởng của nền kinh tế là quá trình duy trì xu thế tăng trƣởng liên tục trong dài hạn. Đồng thời xu thế tăng trƣởng nhƣ vậy sẽ th hiện cách thức tạo ra tăng trƣởng kinh tế nhƣ thế nào.
Luan van 8 Nguy n Văn Nam, Trần Thọ Đạt (2006) khi bàn tới tốc độ và chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế ở Việt Nam đã khẳng định việc nền kinh tế đạt đƣợc tỷ lệ tăng trƣởng cao có th trong nhiều năm sẽ là điều kiện quan trọng đ đánh giá chất lƣợng tăng trƣởng. Trong nghiên cứu của Nguy n Kế Tuấn và nhóm tác giả (2011) khi phân t ch tăng trƣởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010, xu hƣớng tăng trƣởng cũng đƣợc quan tâm xem xét và đƣợc coi là một nội dung đ đánh giá về cách thức tạo ra tăng trƣởng của nền kinh tế giai đoạn này. Như vậy, các công trình nghiên cứu cả lý thuyết và thực nghiệm đều lấy nội dung xu thế tăng trưởng trong dài hạn để đánh giá tăng trưởng kinh tế. Đồng thời tiêu chí đánh giá được sử dụng là giá trị GDP hay GNP theo giá cố định hay tỷ lệ tăng GDP hay GNP hàng năm và trung bình theo thời gian.
Tính ổn định của tăng trưởng thường được xác định bằng tỷ lệ biến thiên – mức ổn định thông qua so sánh sai lệch giữa tăng trưởng hàng năm và trung bình. Đo lƣờng tăng trƣởng kinh tế Bản chất của tăng trƣởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lƣợng của nền kinh tế. Do đó nhìn chung, tăng trƣởng kinh tế đƣợc tính bằng phần trăm thay đổi của mức sản lƣợng quốc dân. gt = Trong đó: gt là tốc độ tăng trƣởng của thời kỳ t.
Y là GDP thực tế của thời kỳ t. GDP là thƣớc đo đƣợc chấp nhận rộng rãi về mức sản lƣợng của một nền kinh tế. Ngoài ra tăng trƣởng kinh tế còn đƣợc tính bằng phần trăm thay đổi của GDP thực tế bình quân đầu ngƣời của thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ trƣớc- thông thƣờng tính cho một năm. Luan van 9 gpct = Trong đó: gpct là tốc độ tăng trƣởng GDP thực tế bình quân đầu ngƣời của thời kỳ t.
y là GDP thực tế bình quân đầu ngƣời. M c dù vậy, không phải quốc gia nào cũng khuyến kh ch tăng trƣởng bằng mọi giá. Thực tế cho thấy nhiều quốc gia đã phải trả giá cho sự tăng trƣởng nahnh bằng những hy sinh mà suy cho cùng thì chúng ảnh hƣởng đến hàng loạt các mục tiêu: Phúc lợi kinh tế chung của xã hội, sự ô nhi m môi trƣờng, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm cho thế hệ mai sau phải trả giá đắt cho sự hƣởng thụ của thế hệ hiện tại. Hơn nữa, một số nhà kinh tế còn bi quan cho rằng chúng ta đứng trƣớc nguồn tài nguyên có hạn, tăng trƣởng nhanh cũng có nghĩa là đang tiêu tốn nguồn tài nguyên đó, cho đến lúc không còn gì đ khai thác đƣợc nữa.
Với những tác động có hại, chúng ta cần nhận thức lại rằng: tăng trƣởng kinh tế đòi hỏi phải trả cho nó một cái giá nào đó. Tất nhiên, nói nhƣ vậy không có nghĩa là chúng ta hạn chế tăng trƣởng mà vấn đề là phải tìm cách đ cho các giá phải trả càng thấp càng tốt. Các nhân tố ảnh hƣởng đến tăng trƣởng kinh tế Tăng trƣởng kinh tế chịu tác động của nhiều nhân tố, bao gồm nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế. Nhân tố kinh tế Nhân tố kinh tế là những nhân tố tác động trực tiếp đến các biến đầu vào và đầu ra của nền kinh tế.
Các nhân tố kinh tế bao gồm 4 yếu tố chủ yếu: vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, tiến bộ công nghệ. Vốn: là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng trƣởng kinh tế. Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trƣởng kinh Luan van 10 tế đƣợc hi u vốn vật chất chứ không phải dƣới dạng tiền (giá trị).