phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn về di dân TĐC Chƣơng 2. Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội của vùng TĐC huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Chƣơng 3. Định hƣớng và một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội vùng TĐC huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đến năm 2015 và tầm nhìn tới 2020.
9 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DI DÂN TÁI ĐỊNH CƢ 1. Tổng quan chung về di dân TĐC 1. Lí thuyết chung về chuyển cư Theo nghĩa rộng, chuyển cư là sự di chuyển của con người trong không gian kèm theo sự thay đổi cư trú, môi trường sống một thời gian hay vĩnh viễn. Có nghĩa là thể hiện sự di động của dân cư.
Theo nghĩa hẹp di dân là sự di chuyển dân cư đến một đơn vị lãnh thổ mới, nhằm thiết lập một môi trường cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định. Có hai bộ phận cấu thành của quá trình di dân: xuất cư và nhập cư.[8, tr 21-22] Định nghĩa này nhằm thể hiện mối liên hệ giữa sự di chuyển theo một không gian nhất định qua một địa giới hành chính với việc thay đổi nơi cư trú. Trong lịch sự phát triển của xã hội loài người, do nhu cầu của con người, do sự phân bố dân cư, đặc điểm tự nhiên của các vùng lãnh thổ khác nhau dẫn tới sự di chuyển dân cư không ngừng, đáp ứng nhu cầu khai thác lãnh thổ của con người, phục vụ cuộc sống. Hiện nay quá trình di cư vẫn diễn ra phổ biến, ngoài mục đích trên, quá trình chuyển cư còn được diễn ra nhằm phục vụ nhu cầu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nào đó của nhà nước.
Tái định cư và hậu TĐC - Sau khi di chuyển dân, dân cư thiết lập môi trường sinh sống trên lãnh thổ mới và định cư lâu dài gọi là TĐC. - Những hoạt động sinh hoạt, sản xuất của đời sống dân cư tại lãnh thổ mới, với nhiều những biến đổi và vấn đề xung quanh cuộc sống mới chính là hình ảnh của đời sống dân cư thời kì hậu TĐC. Bức tranh của hậu TĐC chịu sự tác động của nhiều yếu tố trong môi trường mới. Sự tác động của cảnh 10 Luan van quan, điều kiện sinh thái mới yêu cầu người dân phải thiết lập những điều kiện thích ứng như: hình thức xây dựng nhà ở, sinh hoạt, đi lại, hoạt động sản xuất…Đồng thời, đặc điểm cộng đồng dân cư địa phương, điều kiện cơ sở hạ tầng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển đời sống dân cư.
Kết quả của một thời gian nhất định, đủ để dân TĐC thiết lập một cuộc sống mới, với sự hoạt động kinh tế phù hợp chính là hình ảnh dân cư thời kì hậu TĐC. Các hình thức di dân Trên thế giới, hoạt động di dân cũng khá phổ biến và về phạm vi di dân có sự đa dạng. Có thể là di dân phạm vi quốc tế, giữa các nước trên thế giới với nhau hoặc có thể là là sự di chuyển dân cư trong phạm vi một nước, giữa các vùng, nội vùng. Dù bất kể với phạm vi di chuyển nào cũng tuân theo một trong những hình thức di chuyển sau: a.
Di dân có tổ chức Là hình thức chuyển cư theo kế hoạch, chương trình, dự án do nhà nước và chính phủ, chính quyền các cấp tổ chức và các đoàn thể lập ra nhằm một mục đích kinh tế, xã hội nào đó. Lực lượng dân di cư theo hình thức này được sự sắp xếp có tổ chức và chịu sự chỉ đạo của các lực lượng chức năng và được trợ cấp, hỗ trợ chi phí, bồi thường (nếu có) tùy theo từng mức độ của hoạt động chuyển cư. Đồng thời tại nơi định cư mới, dân chuyển cư chịu sự sắp xếp về địa bàn và được đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhu cầu TĐC của nhân dân. Di dân tự do Là hình thức chuyển cư mang tính chất cá nhân, do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận người di chuyển quyết định, không phụ thuộc vào kế hoạch và sự sắp xếp của chính quyền các cấp, bản thân người chuyển cư phải tự đầu tư chi phí di chuyển và các nhu cầu cơ bản phục vụ quá trình chuyển cư và TĐC.
Dự án thuỷ điện và di dân TĐC Để xây dựng thủy điện lớn, phải đảm bảo tốt khối lượng nước ở vùng lòng hồ, phục vụ cho nhu cầu sản xuất điện năng. Nhiều vùng trong lòng hồ, người dân phải di dời và TĐC trên những địa bàn mới, do thiếu đất canh tác, thiếu nguồn nước để sản xuất và sinh hoạt. Việc di dời, TĐC trong các công trình thuỷ điện sẽ dẫn đến những thay đổi lớn về tập quán canh tác, nguồn sinh kế và lối sống. Việc di chuyển, TĐC trong các dự án thuỷ điện ở miền núi rất khác với các dự án giải phóng mặt bằng ở miền đồng bằng, đòi hỏi có những quan tâm chính sách đặc biệt nhằm giảm thiểu tác động xấu.
Đối với hình thức di dân TĐC của thủy điện có nhiều sự khác biệt so với nhiều hình thức di dân khác. Có các hình thức di dân TĐC thủy điện như sau: - TĐC tập trung: là hình thức di chuyển các hộ TĐC đến nơi ở mới tạo thành một điểm dân cư mới [8, tr 38 -39]. Những hộ TĐC theo hình thức tập trung sẽ được cấp đất, nhà ở, đất sản xuất cũng như những hỗ trợ, chi phí, xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, đặc biệt là hệ thống công trình công cộng phục vụ cho quá trình chuyển cư và TĐC. Hình thức này cho phép cơ quan chính quyền và dân cư chủ động trong việc thiết lập môi trường sinh sống phù hợp với nguyện vọng và sự phát triển của nhân dân.
Tập trung đầu tư có hiệu quả, thiết kế cơ sở hạ tầng phù hợp với đặc điểm sinh hoạt của nhân dân. - TĐC xen ghép: là hình thức mà các hộ TĐC được quy hoạch di chuyển đến ở xen ghép với các hộ dân sở tại tại một điểm dân cư đã có từ trước. Hình thức này giúp người dân tận dụng các cơ sở hạ tầng của dân sở tại đã được đầu tư đồng bộ từ trước, tuy nhiên hình thức này đòi hỏi sự thông cảm chia sẻ của cộng đồng dân cư sở tại trong việc chia sẻ quyền lợi đặc biệt là về nguồn tài nguyên. Những bất đồng, gay cấn xảy ra xung quanh vấn đề sử dụng tài 12 Luan van nguyên luôn kéo dài dai dẳng.
Vì vậy luôn cần có sự công tâm, xử lí của chính quyền một cách phù hợp, để người dân an tâm sinh sống và sản xuất. - Hình thức di vén: Là hình thức di chuyển lên cốt địa hình cao hơn mực nước hồ nhưng vẫn bám lấy vùng lòng hồ. Hình thức này có thuận lợi ở chỗ người dân không phải đi xa, hạn chế được những tổn thất trong việc di chuyển nhà ở, đồ đạc [9, tr 20 -21]…đồng thời có thể tận dụng phần đất còn lại của vùng lòng hồ để phát triển nông nghiệp, ngoài ra còn đẩy mạnh các hoạt động kinh tế phù hợp như: đánh bắt nuôi trồng thủy hải sản, phát triển du lịch…Ngoài ra không mất thời gian để thích nghi với môi trường sinh sống mới. Tuy nhiên nguồn tài nguyên còn lại của vùng lòng hồ không nhiều sẽ là hạn chế lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội của những người dân trong hình thức di chuyển dân cư này.
Quy hoạch TĐC Quy hoạch là một khái niệm trước đây được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng và hiện nay phổ biến rất rộng rãi. Quy hoạch lãnh thổ là bố trí các nguồn lực trên lãnh thổ để có được phương án phát triển tối ưu. Quy hoạch di dân TĐC được xem như là một dạng của quy hoạch lãnh thổ liên quan tới các dự án và công trình phát triển KT-XH như xây dựng các khu công nghiệp, công trình giao thông vận tải…;đặc biệt các dự án phát triển thủy điện thường đòi hỏi quy hoạch di dân TĐC với quy mô lớn trên phạm vi rộng và thời gian tương đối dài. Quy hoạch di dân TĐC liên quan tới các dự án thủy điện được chia ra các cấp: quy hoạch điểm TĐC, khu TĐC và vùng TĐC.
Quy hoạch điểm TĐC Là điểm dân cư được xây dựng theo quy hoạch, trên một lãnh thổ nhất định, có diện tích không lớn, bao gồm đất chuyên dùng, đất sản xuất, đất xây dựng cơ bản, hệ thống các công trình công cộng, điểm bố trí dân TĐC. Quy hoạch khu TĐC Là địa bàn được quy định để bố trí các điểm TĐC, trong đó có sự đầu tư khá đồng bộ về cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng, hình thành vùng sản xuất, thường gắn với địa bàn các xã trong huyện. Trong khu TĐC có ít nhất một điểm TĐC. Quy hoạch vùng TĐC Là địa bàn các huyện, thị xã, được quy hoạch để tiếp nhận dân TĐC.
Trong vùng TĐC có ít nhất 1 khu TĐC. Dân TĐC trong vùng chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố vùng mang lại, không những về yếu tố tự nhiên mà còn chịu sự tác động lớn bởi đặc điểm hoạt động kinh tế, xã hội của dân cư sở tại. Các nhân tố tác động tới công tác di dân, TĐC dự án thuỷ điện 1. Nhân tố môi trường tự nhiên Bao gồm các yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống nhân dân nhân dân.
- Môi trường sống bao gồm có môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội, trong đó môi trường tự nhiên có vai trò quan trọng, vừa là không gian sống, là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên và là nơi chứa đựng các chất thải do con người tạo ra.[18, tr 5 -6] Môi trường sinh thái phù hợp sẽ tạo ra sự thích ứng nhanh chóng của con người với môi trường, từ đó phát huy hiệu quả trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. - Các yếu tố môi trường sinh thái tự nhiên như: địa hình, đất đai, sông, suối, cảnh quan …ảnh hưởng rất rõ đến sinh hoạt, tập quán, chi phối cách thức tổ chức đời sống của nhân dân. Trong các yếu tố tự nhiên, đất đai, nguồn nước nổi lên như những nhân tố chiếm vị trí quan trọng hàng đầu vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tăng gia sản xuất - nguồn sống chính của đại bộ phận người dân TĐC. Địa hình cũng có tác động lớn tới tập quán xây dựng 14 Luan van nhà ở, hoạt động sản xuất.