Tổng quan nghiên cứu

Mỗi năm ngành xây dựng Việt Nam tiêu thụ khoảng 20 đến 22 tỷ viên gạch, trong đó gạch đất sét nung thủ công chiếm tới 90%. Nhu cầu vật liệu khổng lồ này đe dọa làm cạn kiệt ước tính 600 triệu m³ đất sét, tương đương 30.000 ha đất canh tác nông nghiệp, đồng thời tiêu tốn hàng triệu tấn than và xả lượng khí độc hại lớn ra môi trường. Trước thực trạng đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 567/QĐ-TTg và Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 09/2012/TT-BXD nhằm thúc đẩy phát triển vật liệu xây không nung. Thực hiện chủ trương này, tỉnh Gia Lai đã quy định các dự án sử dụng vốn ngân sách phải dùng gạch không nung với tỷ lệ 30% đối với cấp huyện và 50% đối với khu vực thành phố, tiến tới đạt tối thiểu 50% tổng khối xây sau năm 2015. Tuy nhiên, sau thời gian ngắn đưa vào khai thác, hàng loạt công trình công cộng trên địa bàn xuất hiện tình trạng rạn nứt tường nghiêm trọng.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát thực trạng tại 30 công trình xây dựng và 4 nhà máy sản xuất vật liệu tại các địa bàn trọng điểm như thành phố Pleiku, thị xã Ayun Pa, các huyện Chư Pưh, Chư Prông, Phú Thiện, Krông Pa, Đak Đoa và Chư Păh trong giai đoạn 2016 - 2017. Mục tiêu chính là đánh giá các chỉ tiêu cơ lý của gạch bê tông bọt và gạch xi măng cốt liệu, từ đó xác định nguyên nhân cốt lõi gây nứt tường bao che không chịu lực. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học giúp giảm tỷ lệ nứt khối xây từ mức trên 70% xuống dưới 5%, nâng cao tuổi thọ công trình và bảo đảm tính thẩm mỹ lâu dài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên lý thuyết biến dạng nhiệt ẩm của vật liệu vô cơ xốp và lý thuyết ứng suất co ngót khô trong kết cấu khối xây. Đề tài vận dụng hai tiêu chuẩn kỹ thuật cốt lõi là TCVN 9029:2011 quy định cho gạch bê tông bọt, khí không chưng áp và TCVN 6477:2016 áp dụng cho gạch bê tông xi măng cốt liệu. Ba khái niệm then chốt được lượng hóa gồm: độ co khô của vật liệu với ngưỡng giới hạn không lớn hơn 3,0 mm/m; độ hút nước bão hòa theo khối lượng từ 8% đến 14%; và cường độ kéo khi ép chẻ theo quy chuẩn TCVN 8862:2011. Khối lượng thể tích khô của gạch bê tông bọt được phân cấp từ D500 đến D1000 tương ứng cấp cường độ nén từ B1,0 (1,0 MPa) đến B7,5 (7,5 MPa). Khung lý thuyết này kết hợp chặt chẽ với các tiêu chuẩn vữa xây trát theo TCVN 4314:2003 từ mác M5,0 đến M10 nhằm đánh giá tương tác tiếp xúc giữa gạch và vữa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ cỡ mẫu gồm 30 công trình dân dụng quy mô từ 1 đến 4 tầng (bước cột từ 3,3 m đến 4,5 m, nhịp dầm từ 5,0 m đến 6,7 m) và các lô mẫu vật liệu lấy từ 4 nhà máy sản xuất gạch trên địa bàn tỉnh Gia Lai kết hợp đúc thực nghiệm. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên phân tầng tại xưởng sản xuất và cắt mẫu trực tiếp tại hiện trường xây dựng. Toàn bộ thí nghiệm cơ lý được triển khai tại Phòng thí nghiệm LAS-XD25 thuộc Trung tâm Giám định chất lượng xây dựng Gia Lai. Lý do lựa chọn phương pháp thí nghiệm nén mẫu, ép chẻ gián tiếp và đo co ngót bằng đồng hồ đo chuyên dụng là nhằm cô lập hoàn toàn các yếu tố chuyển vị do khung bê tông cốt thép, tập trung đánh giá biến dạng nội tại của vật liệu. Kế hoạch nghiên cứu diễn ra liên tục trong 12 tháng, trải qua hai mùa khí hậu tương phản của Gia Lai với độ ẩm dao động từ mức thấp kỷ lục 12% ở mùa khô đến mùa mưa chiếm 87% lượng mưa cả năm để theo dõi biến dạng mẫu ở các mốc 7, 14 và 28 ngày tuổi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả khảo sát 30 công trình ghi nhận 100% vết nứt xuất phát trực tiếp từ thân viên gạch rồi xé rách mạch vữa liên kết. Dạng vết nứt phổ biến nhất là nứt ngang ở cao độ 1,4 m đến 1,6 m so với mặt sàn với chiều dài từ 2,4 m đến 3,0 m, bề rộng vết nứt từ 0,5 mm đến 1,5 mm; bên cạnh đó là vết nứt đứng cách trụ cột khoảng 2,2 m đến 2,4 m.

Thứ hai, gạch bê tông bọt có độ co khô thực tế vượt quá tiêu chuẩn cho phép 3,0 mm/m, kèm độ hút nước rất cao từ 25% đến 35% (vượt hơn 40% so với ngưỡng kiểm soát ẩm an toàn). Cường độ chịu nén trung bình của mẫu lấy ngoài công trình chỉ đạt 1,5 đến 2,2 MPa và bị suy giảm từ 20% đến 30% khi ở trạng thái bão hòa nước.

Thứ ba, gạch xi măng cốt liệu sản xuất tại địa phương có độ biến dạng co ngót cao, trong khi các công trình có nhịp tường rộng từ 5,0 m đến 6,7 m (nhịp bình quân 5,7 m) nhưng không được bố trí khe co giãn hay giằng phụ, làm tăng biến dạng co nở tích lũy.

Thứ tư, điều kiện khí hậu Gia Lai có biên độ nhiệt ngày đêm dao động từ 6,6°C đến 14°C, độ ẩm mùa khô hạ sâu xuống 12% và lượng mưa tập trung đạt gần 300 mm/tháng vào mùa mưa, tạo ra hiện tượng sốc nhiệt ẩm liên tục trong khối xây.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính gây nứt tường là do độ co khô và độ hút nước của gạch không nung quá lớn, kết hợp với kích thước bước cột và nhịp tường vượt mức chịu ứng suất của vật liệu. Cường độ kéo khi ép chẻ của vữa và gạch chỉ đạt 0,35 đến 0,65 MPa, không đủ khả năng chống đỡ ứng suất kéo sinh ra do sự co ngót nhiệt ẩm. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của William Bracken về ứng suất co rút trong tường bê tông và làm rõ nguyên nhân các sự cố nứt tường tại Bình Định, Phú Yên và Đà Nẵng. Trong phân tích chuyên môn, các dữ liệu này được thể hiện trực quan qua đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa độ co và độ ẩm theo từng chu kỳ, bảng tổng hợp phân tích thành phần hạt của cát và biểu đồ so sánh cường độ chịu nén giữa trạng thái khô và bão hòa nước, minh chứng rõ ràng sự suy giảm độ bền khối xây trong điều kiện môi trường bất lợi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, các nhà máy sản xuất vật liệu cần cải tiến quy trình công nghệ, kiểm soát tỷ lệ chất tạo bọt trong khoảng 2,5% đến 3% và duy trì tỷ trọng bọt từ 50 đến 80 kg/m³. Đơn vị sản xuất phải tuân thủ nghiêm ngặt thời gian dưỡng hộ ẩm tối thiểu 28 ngày trước khi xuất xưởng để kiểm soát độ co khô dưới 2,5 mm/m và giảm độ hút nước xuống dưới 12% trong vòng 3 đến 6 tháng tới.

Thứ hai, đơn vị tư vấn thiết kế bắt buộc phải bổ sung hệ thống bổ trụ bê tông cốt thép đứng và giằng ngang cho các bức tường có nhịp dài hơn 4,0 m hoặc chiều cao trên 3,0 m. Giải pháp này giúp chia nhỏ nhịp tự do xuống dưới 3,0 m, giảm 80% ứng suất kéo tích lũy do biến dạng nhiệt ẩm ngay từ các đồ án thiết kế mới trong năm 2018.

Thứ ba, nhà thầu thi công xây dựng cần thực hiện kỹ thuật vén chân tường chống thấm cao hơn mặt sàn tối thiểu 20 cm, bảo đảm tưới ẩm gạch đúng định mức và dán lưới thép hoặc lưới sợi thủy tinh chống nứt tại các vị trí tiếp giáp giữa khối xây với dầm cột bê tông cùng mép lanh tô cửa trong toàn bộ quá trình thi công.

Thứ tư, Sở Xây dựng và các chủ đầu tư cần tăng cường kiểm tra chất lượng nghiệm thu, lấy mẫu kiểm định độc lập 100% các lô gạch về chỉ tiêu co khô và độ hút nước theo TCVN 6477:2016 và TCVN 9029:2011, kiên quyết từ chối đưa vào sử dụng các lô vật liệu không đạt chuẩn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, kỹ sư thiết kế kết cấu và kiến trúc sư có thể khai thác các thông số biến dạng co ngót thực tế để bố trí hệ giằng, khe lún và phân chia nhịp tường từ 5,0 m đến 6,7 m đạt độ an toàn cao nhất.

Thứ hai, chỉ huy trưởng công trường và kỹ sư giám sát có thể áp dụng trực tiếp các hướng dẫn kỹ thuật về chống thấm chân tường cao 20 cm, kỹ thuật dán lưới liên kết và quy trình kiểm soát độ ẩm vữa xây nhằm loại trừ nguy cơ nứt tường trong giai đoạn hoàn thiện.

Thứ ba, lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật tại các nhà máy sản xuất gạch không nung có cơ sở khoa học để hiệu chỉnh thành phần cấp phối cát, xi măng và chất tạo bọt, từ đó hạ thấp độ co khô của sản phẩm xuống dưới ngưỡng 3,0 mm/m.

Thứ tư, cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại tỉnh Gia Lai và khu vực Tây Nguyên có thể sử dụng bộ dữ liệu khảo sát từ 30 công trình để ban hành hướng dẫn kỹ thuật kiểm soát chất lượng vật liệu xây không nung trên địa bàn.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi gây nứt tường gạch không nung tại Gia Lai là gì? Nguyên nhân chính là do độ co khô và độ hút nước của gạch bê tông bọt cùng gạch xi măng cốt liệu vượt quá quy chuẩn kỹ thuật. Khi kết hợp với nhịp tường dài từ 5,0 m đến 6,7 m và biên độ nhiệt ngày đêm chênh lệch 6,6°C đến 14°C, ứng suất kéo sinh ra vượt quá khả năng chịu lực của khối xây.

Vết nứt trên tường gạch không nung thường có đặc điểm nhận dạng như thế nào? Qua khảo sát 30 công trình thực tế, các vết nứt phổ biến là vết nứt ngang ở cao độ 1,4 m đến 1,6 m so với sàn (dài 2,4 m đến 3,0 m, rộng 0,5 mm đến 1,5 mm) và vết nứt đứng cách trụ cột khoảng 2,2 m đến 2,4 m, nứt xuyên thẳng qua thân viên gạch.

Tại sao gạch bê tông bọt lại có nguy cơ nứt cao hơn vật liệu truyền thống? Gạch bê tông bọt có cấu trúc xốp với độ hút nước thực tế lên tới 25% đến 35% và độ co khô vượt quá 3,0 mm/m. Khi độ ẩm không khí mùa khô giảm mạnh xuống 12%, khối xây bị co rút thể tích nhanh chóng, dẫn đến hiện tượng nứt toác bề mặt.

Giải pháp kết cấu nào xử lý hiệu quả nhất cho tường xây nhịp lớn? Giải pháp hữu hiệu nhất là bố trí bổ trụ đứng và giằng bê tông cốt thép ngang để chia nhỏ nhịp tường lớn hơn 4,0 m thành các khoang nhỏ dưới 3,0 m, đồng thời đặt lưới thép chống nứt tại các góc liên kết cửa và đổ gờ chống thấm chân tường cao 20 cm.

Nghiên cứu căn cứ vào các tiêu chuẩn chất lượng nào để đánh giá thí nghiệm? Luận văn áp dụng tiêu chuẩn TCVN 9029:2011 cho gạch bê tông bọt, TCVN 6477:2016 cho gạch bê tông xi măng cốt liệu, TCVN 8862:2011 để đo cường độ kéo khi ép chẻ và TCVN 4314:2003 để kiểm tra các mác vữa xây trát M5,0 đến M10.

Kết luận

  • Đã hoàn thành khảo sát thực tế toàn diện tại 30 công trình xây dựng và 4 nhà máy sản xuất vật liệu không nung trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
  • Xác định nguyên nhân gốc rễ gây nứt tường là do độ co khô, độ hút nước của gạch vượt chuẩn và khẩu độ nhịp tường thiết kế quá dài từ 5,0 m đến 6,7 m.
  • Chứng minh ảnh hưởng rõ rệt của khí hậu Tây Nguyên với biên độ nhiệt ngày đêm chênh lệch 6,6°C đến 14°C và độ ẩm mùa khô giảm sâu xuống mức 12%.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ chuẩn hóa thời gian dưỡng hộ gạch 28 ngày, bổ sung giằng bê tông đến dán lưới chống nứt và nâng cao chân tường 20 cm.
  • Cung cấp nguồn số liệu thực nghiệm chuẩn xác phục vụ công tác giám sát, nghiệm thu và hoàn thiện quy chuẩn xây dựng địa phương.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là làm sáng tỏ bản chất cơ lý gây nứt tường gạch không nung tại vùng khí hậu đặc thù Tây Nguyên, giải tỏa những lo ngại về chất lượng vật liệu xanh. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung áp dụng các giải pháp giằng kết cấu và kiểm định vật liệu trong giai đoạn 2018 - 2020. Các đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công và cơ sở sản xuất cần triển khai ngay các khuyến nghị kỹ thuật này nhằm nâng cao độ an toàn và chất lượng bền vững cho mọi công trình.