LỜI CAM ĐOAN BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP Tôi xin cam------------------------------------- đoan, đây là công trình của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. BÙ I THANH THỦ Y Tác giả luận văn NGHIÊN CỨU MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỘNG LỰC HỌC CỦA LIÊN HỢP MÁY JOHN DEERE 5310 VỚI MÁY CÀ Y PHỤC VỤ LÀ M ĐẤT NÔNG, LÂMTrần Văn PThịnh NGHIỆ LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian làm việc khẩn trương, với tinh thần nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc, trên cơ sở các kiến thức của bản thân và các tài liệu tham khảo, sự hướng dẫn tận tình của TS. Nguyễn Văn Quân, thầy hướng dẫn Chuyên ngànhnghệ gỗ, giấy trực tiếp, thầy Phạm Văn Lý với những nhận xét và góp ý xác đáng, thầy Trần LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT Kim Khôi và các bạn đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ trong quá trình khảo nghiệm tại hiện trường và xử lý số liệu đo đếm được. Đến nay, Đề tài “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số yếu tố đến năng suất và chi phí năng lượng riêng khi vận xuất gỗ rừng tự nhiên bằng tời tự hành hai trống” của tôi đã hoàn thành và đạt được mục tiêu đề ra. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với những sự giúp đỡ tận tình quý báu đó. Tôi xin hứa với những kiến thức đã học được trong quá trình học tập và nghiên cứu, trong điều kiện có thể tôi sẽ vận dụng vào quá trình hoạt động LỜI CAM ĐOAN Hà Nội, 2011 c Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực BỘ GIÁO DỤC và chưa VÀaiĐÀO được côngTẠO bố trong bấtBỘ kỳNÔNG NGHIỆP công trình VÀ PTNT nào khác. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP ------------------------- Tác giả luận văn BÙ I THANH THỦ Y NGHIÊN CỨU MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỘTrần NG LỰ HỌC CỦA C Thịnh Văn LIÊN HỢP MÁY JOHN DEERE 5310 VỚI MÁY CÀ Y PHỤC VỤ LÀ M ĐẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP Chuyên ngành: Máy và Thiết bị cơ giới hóa Nông -Lâm nghiệp Mã số: 60.14 Chuyên ngànhnghệ gỗ, giấy LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT TS. Trần Nghĩa Tuấ n NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. Lê Văn Thái Hà Nội, 2011 c 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, việc cơ giới hóa phục vụ trong sản xuất nông nghiệp là việc sử dụng các thiết bị máy móc để thực hiện các công việc từ sản xuất cây giống tại vườn ươm, chuẩn bị làm đất, trồng cây, chăm sóc, bảo vệ và thu hoạch cây trồng. Để đáp ứng được các yêu cầu về cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta thì việc sử dụng có hiệu quả các liên hợp máy là hết sức quan trọng. Do nhu cầu thực tế phục vụ cho sản xuất ở nước ta đã nhập khẩu một số mẫu máy của nhiều nước, trong đó có một số mẫu máy thích ứng và phổ biến ở trong nước, tuy nhiên việc chọn lựa chưa được nghiên cứu trên cơ sở khoa học. Các máy được nhập khẩu chủ yếu từ các nước như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, ….Còn các máy cỡ nhỏ được chế tạo trong nước chủ yếu ở nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, nhà máy cơ khí Sông Công Thái Nguyên và một số nhà máy cơ khí ở địa phương…Tuy nhiên một số liên hợp máy sản xuất trong nước được sử dụng trong thời gian qua có chất lượng công nghệ chế tạo chưa phù hợp với điều kiện sản xuất, cho nên việc nghiên cứu phục vụ thiết kế cũng như để nâng cao chất lượng đang dần dần từng bước được củng cố và quan tâm. Trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu đề câ ̣p đến vấn đề sử dụng máy kéo cỡ nhỏ trong sản xuất nông, lâm nghiệp như: PGS. Đặng Thế Hòa Trường Đại học Nông nghiệp – Hà Nội, PGS – TS. Nguyễn Nhật Chiêu Hội Khoa học lâm nghiệp, TS Nguyễn Văn Đạt Trường Đại học Tây Nguyên . Những đề tài trên tập trung nghiên cứu cải tiến, lắp thêm một số bộ phận công tác nhằm nâng cao hiệu quả khả năng sử dụng của liên hợp máy trong điều kiện sản xuất nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên vấn đề động lực học của liên hợp máy phục vụ khâu làm đất nông, lâm nghiệp ở nước ta thì hầu như các đề tài đề cập đến còn rất ít. c 2 Qua tìm hiểu và phân tích khái quát các công trình nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy việc nghiên cứu các liên hợp máy cỡ vừa và nhỏ chỉ tập trung vào xác định khả năng làm việc hoặc cải tiến một số hệ thống hay cơ cấu riêng lẻ, mà chưa chú ý đầy đủ đến các tính chất hoạt động thực tế của liên hợp máy trong sản xuất nông, lâm nghiệp, mối tương quan qua lại giữa liên hợp máy và đối tượng tác động. Trong điều kiện làm việc cụ thể có sự sai số rất lớn so với các giả thuyết khi tính toán thiết kế và nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng làm việc, hiệu quả và chất lượng công việc của liên hợp máy. Tuy các liên hợp máy cỡ nhỏ có tốc độ truyền động thấp, xong do có khối lượng chuyển động, mô men quán tính nhỏ và những đặc điểm kết cấu riêng nên rất dễ nhạy cảm với các tác động động lực học trong quá trình liên hợp với máy công tác. Để đánh giá và nâng cao hiệu quả sử dụng của quá trình làm việc của liên hợp máy và đưa ra giới hạn phạm vi làm việc nhằm cải thiện liên hợp máy sao cho thích ứng với các điều kiện làm việc thực tế trong sản xuất nông, lâm nghiệp ở nước ta, cần thiết phải nhận dạng các chế độ động lực học của liên hợp máy. Có nghĩa là chúng ta phải nắm được về định tính và định lượng các tác động động lực học đến khả năng làm việc cũng như đến chất lượng công việc, độ bền của các chi tiết máy và tính năng điều khiển của liên hợp máy. Với những lý do trên tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu một số vấn đề động lực học của liên hợp máy John Deere 5310 với máy cày phục vụ làm đất nông, lâm nghiệp”. c 3 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình trang bị máy kéo và áp dụng cơ giới trong sản xuất nông, lâm nghiệp nước ta Từ năm 2000 đến nay, khi sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã có nhiều chính sách mới được ban hành ngày càng đồng bộ. Làm cho sản xuất nông, lâm nghiệp đã chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Tính đến tháng 4 năm 2005 cả nước đã trang bị trên 16,3 triệu mã lực dùng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy lợi. Bình quân trang bị động lực cho một ha canh tác đạt 0,8 mã lực, do điều kiện phát triển kinh tế ở các vùng khác nhau nên việc trang bị động lực cũng khác nhau. Cao nhất là Tây nguyên đạt 1,78 mã lực/ha. Đông Nam bộ 1,25 mã lực/ha, Đồng Bằng Sông Cửu Long 0,98 mã lực/ha. Trong khi đó khu 4 cũ và Trung du miền núi phía bắc mới chỉ đạt 0,36 mã lực/ha, [11] . Trong 10 năm gần đây số máy kéo các loại tăng 5,5 lần, động cơ diesel sản xuất trong nước đạt 8,3 lần, các loại máy canh tác khác phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp và chăn nuôi tăng vượt bậc. Các phương tiện vận chuyển ở nông thôn phát triển mạnh, hiện có 100.000 xe vận tải nhỏ và 875.650 tầu thuyền cơ giới. Tỉ lệ diện tích gieo trồng cây hàng năm được cày bừa bằng máy đạt 7,2 %, trong đó máy kéo cỡ nhỏ được xác định là một nguồn động lực quan trọng trong sản xuất . Một trong những chủ trương thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là trang bị các loại máy kéo để cơ giới các khâu sản xuất. Việc trang bị các loại máy kéo để phục vụ sản xuất trong các hộ gia đình nông dân đang được người dân chú trọng đầu tư mua sắm. Nhiều loại máy kéo cỡ nhỏ đã được nhập vào Việt nam với số lượng lớn và phân theo các vùng lãnh thổ. Các loại máy kéo cỡ nhỏ được nhập và sử dụng ở Việt Nam chủ yếu do các nước Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc sản xuất c 4 Nhu cầu sử dụng nguồn liên hợp máy cỡ vừa và máy kéo nhỏ ở các vùng núi phía Bắc, Tây nguyên và Đông Nam Bộ còn rất lớn, trong các ngành chế tạo máy và sản xuất trong nước chỉ mới cung cấp được khoảng 17% [19]. Chính vì vậy thị trường trong nước còn tràn ngập các loại máy kéo nhỏ của Trung Quốc với giá cao và chất lượng chưa tốt. Máy kéo qua sử dụng của Nhật cũng tràn vào Việt Nam, có chất lượng chế tạo tốt hơn nhưng giá thành đắt và phụ tùng thay thế khan hiếm. Ngành chế tạo máy nước ta trong những năm hội nhập WTO đã gặp nhiều khó khăn hầu hết các máy kéo cỡ nhỏ chế tạo trong nước đều sao chép mẫu của Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản ra đời cách đây nhiều thập kỷ, đơn điệu về mẫu mã lạc hậu về tính năng kĩ thuật [19]. Ngay cả việc sao chép mẫu cũng chưa có căn cứ khoa học đầy đủ để có được những máy phù hợp với điều kiện sử dụng ở nước ta. Trong những năm gần đây các công ty chế tạo động cơ (viết tắt là VINAPPRO), công ty máy kéo và máy Nông nghiệp (viết tắt là VIKYNO), công ty Diesel Sông Công ở phía Bắc (viết tắt DISOCO) đã có nhiều tiến bộ trong việc thay đổi chủng loại, nâng cao chất lượng, phát triển số lượng và đã bước đầu có xuất khẩu sang các nước trong khu vực. Thực hiêṇ cơ giới hóa nông, lâm nghiêp̣ theo quan điể m của Lênin: “Muố n thay đổ i tâ ̣p quán thói quen của người tiể u nông cầ n hàng chu ̣c va ̣n máy kéo”. Tới nay tỷ lê ̣ công viê ̣c sử du ̣ng máy móc tăng lên đáng kể . Tiń h đế n tháng 4 năm 2005 cả nước đã trang bi ̣trên 16 triê ̣u mã lực dùng trong sản xuấ t nông, lâm nghiêp, ̣ thủy sản. Biǹ h quân trang bi đô ̣ ̣ng lực cho mô ̣t ha canh tác đa ̣t gầ n 0,8 mã lực/ha, do điề u kiêṇ sản xuấ t, phát triể n kinh tế từng khác nhau nên viê ̣c trang bi ̣ đô ̣ng lực cũng khác nhau.
Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp tại Việt Nam, việc cơ giới hóa các khâu sản xuất nông, lâm nghiệp đóng vai trò then chốt trong nâng cao năng suất và hiệu quả lao động. Tính đến tháng 4 năm 2005, tổng công suất động lực trang bị cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy lợi đạt trên 16,3 triệu mã lực, với bình quân 0,8 mã lực/ha canh tác. Tuy nhiên, sự phân bố công suất này không đồng đều giữa các vùng, ví dụ Tây Nguyên đạt 1,78 mã lực/ha trong khi khu vực miền núi phía Bắc chỉ đạt 0,36 mã lực/ha. Máy kéo cỡ nhỏ và vừa, đặc biệt là liên hợp máy John Deere 5310 với máy cày đĩa, được sử dụng phổ biến tại đồng bằng sông Cửu Long, đóng vai trò quan trọng trong khâu làm đất.
Mục tiêu nghiên cứu là xác định các thông số động học và động lực học của liên hợp máy John Deere 5310 với máy cày đĩa phục vụ làm đất nông, lâm nghiệp, nhằm bổ sung cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý và nâng cao hiệu quả làm việc của liên hợp máy. Phạm vi nghiên cứu tập trung trên nền đất thuần thục, không có gốc cây, đá vụn, với địa hình dốc từ 0º đến 20º, tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực trong việc cải tiến thiết kế, lựa chọn chế độ vận hành phù hợp, góp phần thúc đẩy cơ giới hóa nông nghiệp tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn dựa trên các lý thuyết cơ bản về ôtô máy kéo, liên hợp máy và cơ học kỹ thuật để phân tích động học và động lực học của liên hợp máy kéo John Deere 5310 với máy cày đĩa. Các khái niệm chính bao gồm:
- Động học liên hợp máy: Nghiên cứu các qui luật chuyển động của liên hợp máy trong quá trình làm việc, bao gồm các đặc trưng như tâm động học, chiều dài và bề rộng động học, bán kính quay vòng và các dạng quay vòng (quay vòng không nút, quay vòng có nút).
- Động lực học liên hợp máy: Phân tích các lực tác động lên liên hợp máy trong quá trình làm việc, bao gồm lực kéo tiếp tuyến, lực cản lăn, lực cản do địa hình, lực ma sát giữa máy và đất, cũng như các dao động và tác động động lực học khác.
- Mô hình toán học và mô hình dao động nhiều bậc tự do: Áp dụng để mô tả các dao động thẳng đứng, ngang, xoay quanh các trục của máy kéo, từ đó đánh giá ảnh hưởng của các lực động lực học đến hiệu suất và độ bền của liên hợp máy.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp lý thuyết và thực nghiệm:
- Nguồn dữ liệu: Số liệu kỹ thuật của máy kéo John Deere 5310 và máy cày đĩa, dữ liệu thực nghiệm đo đạc tại hiện trường, các tài liệu tham khảo chuyên ngành về cơ giới hóa nông nghiệp.
- Phương pháp phân tích: Xác định các đặc trưng động học bằng đo đạc trực tiếp; xây dựng mô hình toán học cho động lực học liên hợp máy; tính toán lực kéo, lực cản và lực bám; xây dựng đồ thị đặc tính động cơ và lực kéo; phân tích các phương pháp chuyển động và hệ số sử dụng đường làm việc.
- Timeline nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2011, với các giai đoạn khảo sát hiện trường, thu thập số liệu, phân tích lý thuyết và thực nghiệm, xử lý số liệu và hoàn thiện luận văn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Đặc trưng động học của liên hợp máy:
- Bán kính quay vòng nhỏ nhất của liên hợp máy John Deere 5310 với máy cày đĩa được xác định bằng thực nghiệm là 3,2 m.
- Chiều dài quãng đường chạy không khi quay vòng 180º không nút là khoảng 13,8 m, trong khi quay vòng có nút dạng quả lê là khoảng 24 m, dạng số 8 là 31,7 m và dạng nút hình nấm là 23,2 m.
- Hệ số sử dụng đường làm việc (φ) phụ thuộc vào chiều dài thửa ruộng, với điểm giao nhau tại L0 = 235 m: nếu chiều dài thửa ruộng nhỏ hơn 235 m, phương pháp chuyển động quay vòng không nút được ưu tiên; ngược lại, quay vòng có nút hiệu quả hơn.
-
Khả năng kéo bám và lực kéo của liên hợp máy:
- Mô men cực đại của động cơ John Deere 5310 là 206,7 Nm tại tốc độ 800 vòng/phút, mô men định mức là 161,13 Nm tại 2400 vòng/phút.
- Lực kéo tiếp tuyến cực đại tương ứng với mô men cực đại, giảm nhanh ở số truyền thấp khi tăng vận tốc, giảm nhẹ ở số truyền cao.
- Tổng lực cản chuyển động của liên hợp máy khi làm việc trên địa hình bằng phẳng được tính khoảng 7538 N, trong đó lực cản lăn chiếm phần lớn.
- Lực bám của liên hợp máy được xác định là 15477 N, đảm bảo khả năng kéo bám vượt trội so với lực cản chuyển động.
-
Phân tích các dạng chuyển động và hiệu quả sử dụng:
- Phương pháp chuyển động thẳng kiểu đưa thoi và kiểu xẻ lòng máng được phân tích chi tiết về chiều dài đường chạy không và hệ số sử dụng đường làm việc.
- Đồ thị hệ số sử dụng đường làm việc cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các phương pháp chuyển động, giúp lựa chọn phương pháp phù hợp tùy theo đặc điểm thửa ruộng.
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu cho thấy các đặc trưng động học và động lực học của liên hợp máy John Deere 5310 với máy cày đĩa phù hợp với điều kiện sản xuất nông, lâm nghiệp tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Việc xác định chính xác bán kính quay vòng và các dạng quay vòng giúp tối ưu hóa quãng đường chạy không, giảm hao phí nhiên liệu và tăng năng suất làm việc.
So sánh với các nghiên cứu trước đây, luận văn đã bổ sung các thông số thực nghiệm cụ thể và mô hình toán học chi tiết hơn, đặc biệt trong việc xây dựng đồ thị cân bằng lực kéo và phân tích hệ số sử dụng đường làm việc. Điều này góp phần nâng cao tính ứng dụng thực tiễn trong việc thiết kế và vận hành liên hợp máy.
Ngoài ra, việc phân tích lực kéo và lực bám cho thấy liên hợp máy có khả năng làm việc ổn định trên địa hình bằng phẳng, với lực bám vượt trội so với lực cản, đảm bảo hiệu quả và an toàn trong quá trình vận hành. Các đồ thị và bảng số liệu minh họa rõ ràng mối quan hệ giữa các thông số vận hành, giúp người sử dụng dễ dàng lựa chọn chế độ làm việc phù hợp.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Tối ưu hóa thiết kế liên hợp máy:
- Điều chỉnh vị trí trọng tâm và thiết kế hệ thống truyền lực để giảm thiểu dao động và tăng hiệu suất truyền lực, đặc biệt chú ý đến bộ chuyền đai thang và côn ly hợp.
- Thời gian thực hiện: 1-2 năm; Chủ thể: Các công ty chế tạo máy trong nước phối hợp với viện nghiên cứu.
-
Lựa chọn phương pháp chuyển động phù hợp theo đặc điểm thửa ruộng:
- Áp dụng phương pháp quay vòng không nút cho thửa ruộng có chiều dài dưới 235 m, quay vòng có nút cho thửa ruộng dài hơn để tối ưu năng suất và giảm hao phí nhiên liệu.
- Thời gian thực hiện: ngay trong quá trình vận hành; Chủ thể: Người sử dụng và kỹ sư vận hành.
-
Nâng cao chất lượng và độ bền của máy kéo cỡ nhỏ trong nước:
- Đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghệ chế tạo máy kéo cỡ nhỏ phù hợp với điều kiện Việt Nam, nâng cao khả năng cạnh tranh với máy nhập khẩu.
- Thời gian thực hiện: 3-5 năm; Chủ thể: Nhà nước, các doanh nghiệp cơ khí nông nghiệp.
-
Đào tạo và hướng dẫn sử dụng liên hợp máy hiệu quả:
- Tổ chức các khóa đào tạo kỹ thuật vận hành, bảo dưỡng và lựa chọn chế độ làm việc phù hợp cho người nông dân và kỹ thuật viên.
- Thời gian thực hiện: liên tục; Chủ thể: Các trung tâm đào tạo nông nghiệp, cơ quan quản lý địa phương.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Các nhà nghiên cứu và sinh viên ngành cơ khí nông nghiệp:
- Nắm bắt kiến thức chuyên sâu về động học và động lực học liên hợp máy kéo, phục vụ cho các đề tài nghiên cứu và luận văn tiếp theo.
-
Kỹ sư thiết kế và chế tạo máy kéo, thiết bị nông nghiệp:
- Áp dụng các kết quả nghiên cứu để cải tiến thiết kế, nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước.
-
Người vận hành và quản lý trang trại, hộ nông dân sử dụng máy kéo:
- Hiểu rõ các đặc trưng vận hành, lựa chọn phương pháp chuyển động và chế độ làm việc tối ưu nhằm tăng năng suất và giảm chi phí.
-
Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách nông nghiệp:
- Sử dụng kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển cơ giới hóa nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất bền vững.
Câu hỏi thường gặp
-
Liên hợp máy John Deere 5310 phù hợp với loại đất nào?
Liên hợp máy này thích hợp với đất thuần thục, không có gốc cây và đá vụn, đặc biệt là đất phù sa nhẹ như ở đồng bằng sông Cửu Long, giúp đảm bảo hiệu quả làm đất và kéo bám tốt. -
Bán kính quay vòng nhỏ nhất của liên hợp máy là bao nhiêu?
Bán kính quay vòng nhỏ nhất được xác định là 3,2 m, giúp tối ưu hóa quãng đường chạy không và giảm thiểu diện tích đất bị ảnh hưởng khi quay vòng. -
Phương pháp chuyển động nào nên áp dụng cho thửa ruộng dài dưới 235 m?
Phương pháp quay vòng không nút được khuyến nghị cho thửa ruộng có chiều dài nhỏ hơn 235 m nhằm tăng hệ số sử dụng đường làm việc và giảm hao phí nhiên liệu. -
Lực kéo cực đại của máy kéo John Deere 5310 là bao nhiêu?
Lực kéo cực đại tương ứng với mô men cực đại 206,7 Nm tại tốc độ 800 vòng/phút, đảm bảo khả năng vượt qua lực cản chuyển động khoảng 7538 N trong điều kiện làm việc. -
Làm thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng liên hợp máy?
Cần tối ưu thiết kế trọng tâm, lựa chọn phương pháp chuyển động phù hợp, bảo dưỡng định kỳ và đào tạo người vận hành để đảm bảo liên hợp máy hoạt động ổn định và hiệu quả.
Kết luận
- Đã xác định được các đặc trưng động học quan trọng của liên hợp máy John Deere 5310 với máy cày đĩa, bao gồm bán kính quay vòng, chiều dài và bề rộng động học.
- Xây dựng thành công mô hình động lực học và đồ thị cân bằng lực kéo, giúp đánh giá khả năng kéo bám và lực cản chuyển động trong điều kiện làm đất nông, lâm nghiệp.
- Phân tích và đề xuất các phương pháp chuyển động phù hợp tùy theo đặc điểm thửa ruộng, tối ưu hóa năng suất và giảm chi phí vận hành.
- Đề xuất các giải pháp cải tiến thiết kế, nâng cao chất lượng máy kéo cỡ nhỏ trong nước và đào tạo người sử dụng để thúc đẩy cơ giới hóa nông nghiệp.
- Tiếp tục nghiên cứu mở rộng phạm vi địa hình và điều kiện làm việc, đồng thời phát triển các mô hình động lực học phức tạp hơn để nâng cao độ chính xác và ứng dụng thực tiễn.
Áp dụng kết quả nghiên cứu vào thiết kế và vận hành thực tế, đồng thời triển khai các chương trình đào tạo kỹ thuật cho người sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông, lâm nghiệp.