Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Nội dung, phƣơng pháp nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận và Kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1-TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 1. Tình hình điều tra, thống kê nguồn tài nguyên cây thuốc Trong tất cả các nền văn hóa của nhân loại từ xƣa đến nay, con ngƣời luôn coi trọng cây cỏ nhƣ là một nguồn thuốc chủ yếu để chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay số loài cây thuốc đƣợc sử dụng trên thế giới ƣớc tính từ 30. Trong đó, ở vùng nhiệt đới châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa đƣợc dùng làm thuốc.000 loài, ở Trung Quốc là hơn 5.000 loài và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cây thuốc của các nƣớc đƣợc sử dụng rộng rãi và có giá trị khoa học thực tiễn lớn.
Điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc đƣợc coi là có nhiệm vụ trọng tâm của tất cả các quốc gia. Cho đến nay nhiều tài liệu quý ghi chép kinh nghiệm sử dụng của ngƣời xƣa vẫn còn lƣu truyền tại Trung Quốc - quốc gia có truyền thồng lâu đời trong việc sử dụng cây cỏ để trị bệnh. Trong tập “Thần nông bản thảo” chỉ rõ khoảng 5000 năm trƣớc đây ngƣời Trung Hoa cổ đại đã sử dụng 365 vị thuốc và cây thuốc để phòng và chữa bệnh. Tới giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân thống kê 1.200 vị thuốc trong tập “Bản thảo cƣơng mục”.
Các tài liệu cổ xƣa về sử dụng cây thuốc cũng đƣợc ngƣời Ai Cập cổ đại ghi chép cách đây khoảng 3600 năm trƣớc với 800 cây thuốc và trên 700 bài thuốc. Các nhà thực vật ngƣời Pháp đƣợc coi là những ngƣời đầu tiên của Châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều giá trị. Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chƣơng trình nghiên cứu về thực vật Đông Dƣơng, Perry công bố 1.000 loài cây và dƣợc liệu tại Đông Nam Á đã đƣợc kiểm chứng và gần đây tổng hợp thành cuốn sách “Medicinal Plants of East and Southeast Asia”,. Nghiên cứu, đánh giá về giá trị của nguồn tài nguyên cây thuốc Ở các quốc gia đang phát triển có tới 80% dân số tỏ ra tín nhiệm với việc chăm sóc sức khỏe bằng y học cổ truyền, mà trong đó cây cỏ là nguồn thuốc chủ 5 yếu đã đƣợc sử dụng.
Trung Quốc là nƣớc đông dân nhất thế giới, lại có nền y học dân tộc phát triển, nên trong số các loài cây thuốc đã biết hiện nay có đến 80% số loài (khoảng 4.200 loài) là đƣợc sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc. Bên cạnh các phƣơng thức dùng cây thuốc theo cách cổ truyền nhƣ sắc, thuốc cao, thuốc ngâm rƣợu, thuốc bột, thuốc chƣờm – bó và xoa bóp,… từ nhiều năm nay, ngƣời ta còn chế tạo ra hàng trăm loại thuốc hiện đại, có hiệu lực chữa bệnh cao, mà nguồn gốc là các hợp chất tự nhiên đƣợc chiết xuất từ cây cỏ. Phƣơng pháp nghiên cứu sàng lọc hóa học và dƣợc lý để tạo thuốc mới ngày càng đƣợc quan tâm nhiền hơn không chỉ ở các quốc gia phát triển, mà còn ở các quốc gia đang phát triển. Ở Trung Quốc, số dƣợc liệu (từ thực vật) sử dụng trong y học cổ truyền hàng năm từ 0,7 – 1,0 triệu tấn, Nhu cầu thuốc từ cây cỏ ở Trung Quốc vào khoảng 1.000 tấn/năm, với tỷ lệ tăng trƣởng hằng năm khoảng 9%.
Tỷ lệ này ở châu Âu và Bắc Mỹ khoảng 10% mỗi năm,. Ngƣời Bulgary sử dụng Hoa Hồng nhƣ một loại dƣợc liệu, ngƣời ta dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng. Ngày nay, nhiều nghiên cứu cho thấy trong cánh Hoa hồng có chứa một lƣợng tamin, glycosyd, tinh dầu. Lƣợng tinh dầu này ngoài việc dùng làm hƣơng liệu còn có khả năng chữa nhiều bệnh.
Ngƣời Ấn Độ dùng lá cây Ba chẽ (Desmodium triangulare (Retz.) sao vàng, sắc đặc chữa kiết lỵ, tiêu chảy. Bồ cu vẽ ( Breynia fruticosa (L.) vốn là loài mọc hoang dại phổ biến tại nhiều nơi, ít ai biết rằng nó có nhiều công dụng chữa bệnh. Ngƣời dân Malaysia lấy cây Húng chanh (Coleus amboinicus Lour.) sắc lấy nƣớc cho sản phụ uống; trị các chứng ho gà, đau cổ họng, sổ mũi ở trẻ em,… Tại Trung Quốc, có khoảng 1.000 loài cây thuốc thƣờng xuyên đƣợc sử dụng, chiếm 80% thuốc bán trên thị trƣờng trong nƣớc, với tổng giá trị (1992) là 11 tỉ Nhân dân tệ. Hồng Kông là nơi có thị trƣờng thuốc thảo mộc lớn nhất của thế giới, hàng năm nhập một lƣợng dƣợc liệu trị giá 190 triệu USD, trong đó có 70% đƣợc sử dụng tại chỗ và 30% đƣợc tái xuất, trong khi đó chỉ có 80 triệu USD thuốc tây đƣợc nhập trong cùng thời gian.
Trung bình tiền sử dụng thuốc cây cỏ của ngƣời dân Hồng Kông là 25 USD/năm. Việc phát hiện ra hoá chất chữa trị bệnh ung thƣ 6 hiệu nghiệm trong cây Thông đỏ vùng Thái Bình Dƣơng, một loài cây bản địa của các rừng cổ Bắc Mỹ đã mang lại lợi nhuận kinh tế cao. Trong vòng hai mƣơi năm qua ngành công nghiệp chế biến Thông đỏ thành thuốc chữa ung thƣ đã mang lại lợi nhuận là 500 triệu USD/năm, những thuốc này đang đƣợc sử dụng rộng rãi ở Châu Âu và Châu Á. Hãng dƣợc phẩm danh tiếng Biotech của Bỉ mỗi năm điều tra nghiên cứu sàng lọc 1.000 loài cây thuốc từ các quốc gia trên thế giới.
Tại Nhật Bản, 42,7% ngƣời dân sử dụng thuốc cổ truyền để chữa bệnh với tổng chi tiêu khoảng 150 triệu USD (1983). Tại Ấn Độ, có 400 loài trong số 7.500 loài cây thuốc thƣờng xuyên đƣợc sử dụng với lƣợng lớn ở các xƣởng sản xuất thuốc nhỏ. Doanh số bán thuốc thảo mộc ở các nƣớc Tây Âu năm 1989 là 2,2 tỉ USD so với tổng doanh số buôn bán dƣợc phẩm là 65 tỉ USD…v.v [8], [14], [16], [17] Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hƣớng của thế giới. Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thƣ Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thƣ, 25% đơn thuốc ở Mỹ có sử dụng chế phẩm có dƣợc tính mạnh có nguồn gốc từ thực vật.
Nhận thức rõ giá trị chữa bệnh của các cây thuốc chính là các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học chứa trong nguyên liệu, vì vậy nghiên cứu cây thuốc theo các nhóm hợp chất đƣợc tiến hành và đã thu đƣợc nhiều kết quả tốt. Tuy nhiên, hƣớng nghiên cứu này đòi hỏi kinh phí lớn, trang thiết bị hiện đại và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao. Do vậy, đây là các nghiên cứu đƣợc triển khai ở các nƣớc phát triển và một số các nƣớc đang phát triển. Các cây thuốc chứa các nhóm hoạt chất ancanoit, flavonoit, cumarin hiện đang đƣợc quan tâm nhiều,v.
Khái quát nghiên cứu, xác định các mối đe dọa đối với nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới Suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc là một thách thức lớn đối với sự phát triển của xã hội trong tƣơng lai. Để bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc trên trái đất, các nhà nghiên cứu thống nhất rằng việc xác định chính xác các nguyên nhân hay các mối đe dọa gây ra hiện trạng trên là yêu cầu thực tế. Bởi khi xác định chính xác các nguyên nhân, chúng ta mới có thể đƣa ra các biện pháp 7 hữu hiệu để chạn chế và ngăn chặn tác động của chúng. Mặc dù suy giảm và cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc đƣợc gây ra bởi nhiều nguyên nhân, tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thống nhất quy chúng vào các nguyên nhân chính sau đây: a.
Mất rừng và thay đổi nơi sống của thực vật Hầu hết các loài cây thuốc trên thế giới phân bố và sinh trƣởng tốt trong các kiểu rừng. Một số loài chỉ tồn tại và sinh trƣởng bình thƣờng trong một kiểu rừng nhất định. Vì vậy, mất rừng chính là mất điều kiện tồn tại của hầu hết các loài thực vật, trong đó có các loài làm thuốc. Theo tài liệu mới công bố của Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF, 1998), trong thời gian 30 năm (1960 – 1990) độ che phủ rừng trên toàn thế giới đã giảm đi gần 13%, tức diện tích rừng đã giảm đi từ 37 triệu km2 xuống 32 triệu km2 , với tốc độ giảm trung bình 160.
Sự mất rừng lớn nhất xảy ra ở các vùng nhiệt đới, ở Amazone (Braxin) trung bình mỗi năm rừng bị thu hẹp 19.000 km2 trong suốt hơn 20 năm qua. Bốn loại rừng bị hủy diệt lớn là rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rộng 60%, rừng lá kim khoảng 30%, rừng ẩm nhiệt đới khoảng 45% và rừng khô nhiệt đới lên đến khoảng 70%. Hiện nay trung bình hàng năm mất 80.000 km2 rừng và 100.000 km2 rừng bị suy thoái làm cho cấu trúc hệ sinh thái rừng hoàn toàn bị thay đổi. Số liệu của Viện nghiên cứu kinh tế Ifo ở Munich, Đức công bố ngày 19/1/2006 cho biết từ năm 1990 đến 2005, diện tích rừng trên trái đất đã giảm 3%, tức trung bình mỗi ngày mất 20.000 héc ta rừng.
Đây là hiện tƣợng đáng báo động ở nhiều quốc gia. Đặc biệt là ở Brazil và Sudan, rừng bị phá vô tội vạ để trồng cây Cọ dừa và Đậu tƣơng và các loại cây sản xuất nhiên liệu sinh học, 47% diện tích rừng thế giới hàng năm bị thu hẹp trƣớc hết là ở hai nƣớc này. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến làm mất rừng trên thế giới, tập trung chủ yếu vào các nhóm nguyên nhân sau đây: - Mở rộng diện tích đất nông nghiệp: Để đáp ứng nhu cầu sản xuất lƣơng thực, trong đó sản xuất nhỏ du canh là nguyên nhân quan trọng nhất. Hiện nay mở rộng diện tích nông nghiệp ở Châu Á và Châu Phi đang xảy ra với tốc độ mạnh hơn so với Châu Mỹ La Tinh.
Trong thế kỷ qua, diện tích đất canh tác trên toàn thế giới 8 tăng 74%, diện tích đất đồng cỏ tăng 113%. Cũng trong thời gian đó, rừng và các thảm thực vật cây gỗ khác giảm 21%,… - Khai thác gỗ và các sản phẩm rừng: Việc đẩy mạnh khai thác gỗ cũng nhƣ các tài nguyên rừng khác cho phát triển kinh tế và xuất khẩu cũng là nguyên nhân dẫn đến làm tăng tốc độ phá rừng ở nhiều nƣớc.