Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nông thôn Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn, có quan điểm cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn. Tuy nhiên, theo quan điểm nhóm chuyên viên Liên hợp quốc đề cập đến khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và luôn biến động theo thời gian, để phản ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện Việt Nam có thể hiểu: Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân.
Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường trong một vũng lãnh thổ, một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Khái quát chung về quy hoạch, quy hoạch phát triển nông thôn Quy hoạch là một công cụ quản lý nhà nước được áp dụng khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong xu thế toàn cầu hóa, nội hàm của quy hoạch cũng có những thay đổi để phù hợp với thời đại, nhất là với nhu cầu phát triển không gian cả bên trong và bên ngoài của mỗi quốc gia. Theo Allmendinger và Tewdwr-jones (2002) và Taylor (1998) quy hoạch được hình thành từ cách tiếp cận không gian vật thể sau đó lồng ghép các cách tiếp cận kinh tế, xã hội và môi trường trong việc sử dụng không gian.
Các quy hoạch vật thể (physical), như: quy hoạch đất đai, quy hoạch đô thị… có tính không gian rất cụ thể. Trong khi đó, các quy hoạch kinh tế vĩ mô, quy hoạch xã hội, hay quy hoạch phát triển thường chứa đựng sự phát triển không gian mang tính trừu tượng nhiều hơn [20],[21]. Theo Viện chiến lược phát triển (2004), “Quy hoạch là việc lựa chọn phương án phát triển và tổ chức không gian kinh tế - xã hội cho thời kỳ dài hạn trên lãnh thổ c 3 xác định”. Với định nghĩa này, đối tượng của quy hoạch là các hoạt động kinh tế - xã hội.
Quy hoạch ngành hay quy hoạch lãnh thổ cũng là việc lựa chọn phương án phát triển cơ cấu kinh tế ngành dựa trên nguyên tắc phân công lao động theo ngành/lãnh thổ và giải quyết được mối quan hệ liên ngành và liên vùng (Ngô Doãn Vịnh, 2003). Dạng quy hoạch này được áp dụng phổ biến, rộng khắp ở tất cả các quốc gia trên thế giới [11], [12]. Vai trò, ý nghĩa và nội dung của quy hoạch luôn gây tranh cãi bởi lẽ đó là sự phân định quyền lực, giữa nhà nước và thị trường. Phạm vi của quy hoạch theo thời gian thường được mở rộng và nó thường được gắn với sự biến động của chính trị theo thời gian (Palermo và Ponzini,2010) và có thể coi đây là một ngành khoa học quản lý.
Còn Glasson và Marshall (2007) lại cho rằng, dù quy hoạch có được sử dụng như thế nào trong các thời kỳ phát triển khác nhau, nó đều liên quan trực tiếp đến việc phát triển không gian trong tương lai. Quy hoạch là việc bố trí có mục đích hướng đến không gian tương lai của một tập thể lớn các hoạt động trong/trên một phạm vi đất đai hay nguồn vật chất [10]. Quy hoạch phát triển nông thôn được coi là quy hoạch tổng thể trên vùng không gian sống của mọi sinh vật bao gồm loài người, động vật, thực vật. Mục tiêu của quy hoạch là đáp ứng sự tăng trưởng liên tục mức sống của con người và phát triển bền vững.
Do đó phát triển kinh tế văn hóa xã hội phải đi đôi với bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ và tái tạo tài nguyên để phục vụ cho lợi ích lâu dài của các thế hệ sau.Về khái niệm nông thôn mới, quy hoạch xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là biểu hiện cụ thể của phát triển nông thôn, nhằm tạo ra một nông thôn có kinh tế phát triển cao hơn, có đời sống về vật chất, văn hóa và tinh thần tốt, có bộ mặt nông thôn hiện đại. Theo tác giả TS. Vũ Thị Bình: Nông thôn mới là nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có quy hoạch, có kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái trong lành, dân trí cao, giữ gìn được bản c 4 sắc văn hóa dân tộc, an ninh chính trị được giữ vững [8]. Quy hoạch nông thôn mới bao gồm quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn trên địa bàn xã hoặc liên xã (còn gọi là quy hoạch chung xây dựng xã) và quy hoạch điểm dân cư nông thôn (còn gọi là quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã thôn, làng, xóm….
Đặc điểm của quy hoạch là quy hoạch thường mang tính định hướng về tương lai, vì vậy quy hoạch phải có mục tiêu rõ rệt, không hình thành do ý nghĩ chủ quan của một số người làm quy hoạch, không thể hình thành chóng vánh ngày một ngày hai, mục tiêu phải có tính khả thi. Nếu quy hoạch không hướng vào tương lai thì chỉ là một việc làm tốn kém, không rõ ràng cu thể. Quy hoạch phát triển nhằm đạt được mục tiêu cải thiện đời sống cho phần lớn người dân nông thôn. Mô hình phát triển nông thôn mới 1.
Quan điểm của quy hoạch xây dựng nông thôn mới Quy hoạch xây dựng nông thôn mới phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từng vùng và phát triển ngành, gắn liền với định hướng phát triển hệ thống đô thị,các vùng kinh tế phù hợp với bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; phải xác định cụ thể định hướng phát triển đặc trưng của từng khu vực nông thôn; giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng trước mắt với phát triển lâu dài, giữa cải tạo với xây dựng mới; phù hợp với sự phát triển về kinh tế của địa phương và thu nhập thực tế của người dân. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới phải có sự tham gia của người dân, cộng đồng dân cư, từ ý tưởng quy hoạch đến huy động nguồn vốn, tổ chức thực hiện và quản lý xây dựng. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp với nguồn vốn đầu tư và điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương; định hướng, giải pháp, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội, môi trường điểm dân cư, hạn c 5 chế tối đa những ảnh hưởng do thiên tai, ngập lũ, nền đất yếu. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo hiện đại, văn minh nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của từng vùng miền, từng dân tộc; giữ gìn bảo tồn di sản và phát huy các giá trị văn hóa vật thể.
Một số đặc trưng cơ bản của mô hình nông thôn mới Một là, đối tượng của mô hình nông thôn mới là làng – xã. Làng – xã thực sự là một cộng đồng, chịu sự quản lý của nhà nước, tuy nhiên nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn, mà trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thông qua thương ước, lệ làng. Hai là, đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, đô thị hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ gắn bó lâu đời. trước hết, tạo mọi điều kiện cho người dân có thể làm giàu trên chính quê hương mình.
Ba là, nông dân biết khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, tăng cường kinh tế cao bền vững, môi trường tự nhiên được giữ gìn khai thác tốt tiềm năng du lịch, khôi phục ngành kinh tế truyền thống, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Bốn là, dân chủ nông thôn được mở rộng và đi vào thực chất. Các chủ thể nông thôn tham gia tích cực trong quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan, phân phối công bằng. Năm là, nông dân, nông thôn có văn hóa, trí tuệ được nâng lên, sức lao động được giải phóng, nhân dân tích cực tham gia vào quá trình đổi mới.
Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng - xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới. Các tiêu chí này trở thành mục tiêu, yêu cầu trong hoạch định chính sách mô hình nông thôn mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nguyên tắc và yêu cầu của quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Các nội dung, hoạt động của chương trình xây dựng NTM phải hướng tới mục c 6 tiêu thực hiện 19 tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành của thủ tướng chính phủ [14].
Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện. Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn. Thực hiện chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực, tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của chương trình xây dựng NTM, phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cở sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá. Xây dựng NTM là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã hội, cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM.