Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1.1 Những nghiên cứu liên quan tới cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất vi mô Khoa học về đất đai đã được các nước phát triển quan tâm nghiên cứu từ hàng trăm năm qua, những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất đã được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất cây trồng và sử dụng đất đai có hiệu quả. Theo tài liệu của FAO, hiện nay dân số thế giới có khoảng 8 tỷ người, thế giới đang sử dụng 1,476 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đất đồi núi là 973 triệu ha (chiếm 65,9%) và đất có độ dốc lớn trên 100 chiếm 377 triệu ha bằng 25,5% (Sheng,1988; Hudson, 1988; Cent, 1989). Trong quá trình sử dụng nhân loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất.
Norman Myers (Gaian Atlas of planet Management. London,1993) ước lượng hàng năm trên toàn thế giới mất khoảng 11 triệu ha đất nông nghiệp do các nguyên nhân xói mòn, sa mạc hóa, nhiễm độc hoặc chuyển hóa sang các dạng khác. Trước đây, thế giới có 17,6 tỷ ha rừng chiếm 31,7% diện tích lục địa thì hiện nay diện tích này chỉ còn 4,1 tỷ ha chiếm 7,4%. Trung bình mỗi năm rừng nhiệt đới mất khoảng 11 triệu ha, trong khi đó diện tích trồng rừng ở các nước nhiệt đới chỉ bằng 1/10 diện tích rừng bị mất.
Riêng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong thời gian từ 1976-1980 đã mất 9 triệu ha rừng, tính ra trung bình mỗi ngày mất 5000 ha. Cũng trong thời gian này châu Phi mất 37 triệu ha, châu Mỹ mất 18,4 triệu ha rừng. Nạn phá rừng, khai thác rừng quá mức diễn ra một cách trầm trọng ở 56 nước nhiệt đới thuộc thế giới thứ ba. Mất rừng đã gây ra hiện tượng xói mòn đất, quá trình sa mạc hóa ngày càng nghiêm trọng.
Hiện nay có tới 875 triệu người phải sống ở các vùng hoang mạc. Sa mạc hóa đã làm mất đi 26 tỷ đô la giá trị sản phẩm mỗi năm, xói mòn làm cả thế giới mất đi 12 tỷ tấn đất. Theo tính toán với lượng đất mất đi này có thể sản xuất ra 50 triệu tấn lương thực, hàng ngàn hồ chứa nước ở vùng c 4 nhiệt đới bị cạn dần, tuổi thọ của các công trình thủy lợi, thủy điện ngày càng rút ngắn [28]. Mất rừng cùng với khí thải công nghiệp là nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính làm tăng nhiệt độ khí quyển, băng tan, thời tiết diễn biến bất thường… Báo cáo phát triển thế giới (1992) dự đoán dân số toàn cầu sẽ đạt khoảng 8,3 tỷ vào năm 2025.
Borlaug (1996) cho rằng: Cũng giống như trước đây, loài người sẽ sống chủ yếu là dựa vào thực vật, đặc biệt là hạt ngũ cốc để thỏa mãn nhu cầu lương thực. Thậm chí nếu như tiêu thụ lương thực theo đầu người giữ nguyên mức hiện thời thì sự tăng trưởng dân số thế giới cũng đòi hỏi phải tăng năng suất lương thực thô thêm 2,6 tỷ tấn vào năm 2025, tức là tăng 57% so với năm 1990. Nhưng nếu như khẩu phần được cải thiện cho thế giới người nghèo đói (ước tính ít nhất 1 tỷ người) thì nhu cầu lương thực thế giới hàng năm phải tăng gấp đôi tức là 4,5 tỷ tấn nữa [33]. Nếu bằng con đường tăng năng suất các loại cây trồng (năng suất các cây ngũ cốc phải tăng 80% trong thời kỳ 1990-2025) theo kỷ yếu sản xuất của FAO và tính toán của Norman E.
Borlaug thì nguồn lương thực hạt ngũ cốc thế giới mới chỉ đạt 3,97 tỷ tấn vào năm 2025 [33]. Quỹ đất nông nghiệp sẽ phải tăng để bù lại sự thiếu hụt cũng là hướng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nhưng theo Norman E. Borlaug thì cơ hội để mở mang thêm đất mới cho trồng trọt đã được tận dụng gần hết, nhất là đối với vùng đông dân châu Á và châu Âu [33].
Theo Ducal (1978), trong vòng 20 năm từ 1957-1977, đất canh tác trên thế giới tăng thêm 150 triệu ha, bằng 10% đất có khả năng khai hoang sử dụng cho nông nghiệp và bằng 9% đất canh tác lúc đó. Nhưng cũng trong 20 năm này, dân số thế giới đã tăng tới 40%, lương thực do số đất mới làm ra chỉ đủ nuôi 1/3 số dân tăng thêm. Dân số thế giới ngày càng tăng trong khi đó đất đai sản xuất lại có hạn, để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng, con người đã và đang đi theo hai hướng: tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích canh tác. Nhưng dù đi theo hướng nào thì vẫn phải đảm bảo sử dụng có kế hoạch, có hiệu quả và bền vững trên cơ sở nghiên cứu đánh giá tổng hợp tiềm năng của đất đai.
Kết quả nghiên cứu hệ thống canh tác tại châu Á, châu Phi và Nam Mỹ cho thấy, phân tích hệ thống canh tác là một công cụ quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng c 5 đất lâm nghiệp cấp địa phương. Năm 1990, Lunning đã nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất. Trong nghiên cứu hệ thống canh tác, Robert Chamert năm 1985 đã đưa ra các cách tiếp cận như: Tiếp cận Sondeo của Peter Hildebrand (Hildebrand 1981); Tiếp cận “Nông thôn-trở lại-về nông thôn” của Robert Rhoades (Rhoades 1982); Cách sử dụng cụm kiến nghị của L. Nghiên cứu về hệ thống canh tác, năm 1990 FAO đã xuất bản cuốn “Phát triển hệ thống canh tác”.
Công trình đã chỉ ra những hạn chế của phương pháp tiếp cận nông thôn một chiều từ trên xuống không phát huy được tiềm năng nông trại và cộng đồng nông thôn. Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn, công trình đã đưa ra phương pháp mới đó là phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân nhằm phát triển hệ thống nông trại trong cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững. Trên đây là những nghiên cứu, dẫn liệu và tài liệu liên quan đến vấn đề sử dụng đất đai, hệ thống sử dụng đất, hệ thống canh tác cùng phương pháp tiếp cận nông thôn mới đã được nghiên cứu, áp dụng ở nhiều nước, có thể coi là cơ sở lý luận và thực tiễn để các nước vận dụng trong QHSDĐ cấp vi mô một cách hợp lý.2 Những nghiên cứu liên quan tới quy hoạch sử dụng đất vi mô có sự tham gia của người dân Hội thảo quốc tế tại Việt Nam năm 1998 về vấn đề quy hoạch sử dụng đất cấp làng bản đã được FAO đề cập một cách khá chi tiết cả về mặt khái niệm lẫn sự tham gia trong việc đề xuất các chiến lược quy hoạch sử dụng đất và giao đất cấp làng bản. Tại cuộc Hội thảo giữa trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và trường Tổng hợp kỹ thuật Dresden, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được Holm Uibrig đề cập khá đầy đủ và toàn diện.
Tài liệu đã phân tích về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn đề phát c 6 triển nông thôn, quy hoạch sử dụng đất, phân cấp hạng đất và phương pháp tiếp cận mới trong quy hoạch sử dụng đất… Nội dung chủ yếu của quy trình quy hoạch sử dụng đất và giao đất có sự tham gia bao gồm: - Sự tham gia của người dân trong hoạt động thực thi trong quy hoạch sử dụng đất và giao đất: Đào tạo cán bộ và chuẩn bị; Hội nghị làng và chuẩn bị. - Điều tra ranh giới làng, khoanh vẽ đất đang sử dụng, điều tra và xây dựng bản đồ sử dụng đất. - Thu thập và phân tích số liệu. - Quy hoạch sử dụng đất đai và giao đất.
- Xác định đất canh tác nông nghiệp. - Sự tham gia của người dân trong hợp đồng hoặc khế ước và chuyển nhượng đất lâm nông nghiệp. - Mở rộng quản lý và sử dụng đất. - Kiểm tra và đánh giá.
Những tài liệu hướng dẫn này là công cụ tốt để tiến hành quy hoạch sử dụng đất cấp xã theo phương pháp cùng tham gia.1 Những nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất vi mô Việt Nam là một nước nông nghiệp với 80% dân số sống ở nông thôn nhưng chủ yếu là đất đồi núi nên từ xa xưa vấn đề sử dụng đất tiết kiệm rất coi trọng, cha ông ta ví “tấc đất tấc vàng”. Những hiểu biết về kinh nghiệm sử dụng đất được chú ý và tổng hợp thành tài liệu từ thế kỷ 15, Lê Quý Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ đã khuyên nông dân áp dụng luân canh với cây họ đậu để tăng năng suất lúa. Vào đầu thế kỷ 18, Nguyễn Công Trứ đã cho dân quai đê lấn biển ở Tiền Hải - Thái Bình để mở rộng diện tích canh tác. Trong thời kỳ Pháp thuộc, các công trình nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất chủ yếu được tiến hành qua các nhà khoa học Pháp.
c 7 Từ năm 1955-1975, công tác điều tra phân loại đất được tiến hành một cách có hệ thống ở miền Bắc nhưng sau năm 1975 các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất. Từ sau năm 1975, về nghiên cứu đánh giá đất đai gắn với mục tiêu sử dụng đạt được nhiều thành tựu, nhất là sau năm 1980, với những công trình nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá đất do FAO đề xuất. Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu phân hạng đất trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994. Những công trình này mới chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu những đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất.
Những thành tựu về nghiên cứu đất đai trong giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp phần vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả trong cả nước. Ở nước ta, vấn đề quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô có sự tham gia của người dân mới được nghiên cứu và ứng dụng trong những năm gần đây. Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu ở những mức độ khác nhau. Cho đến nay, những nghiên cứu trên vẫn còn rất tản mạn, chưa được phân tích đánh giá tổng hợp thành cơ sở lý luận và thực tiễn.