Chương 1 NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ SÁNG TÁC CỦA PHAN HỒN NHIÊN TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI Trong chương đầu tiên này, luận văn sẽ trình bày ngắn gọn một số vấn đề cơ bản của nghệ thuật tự sự và những nét chung nhất về nhà văn Phan Hồn nhiên và sáng tác của chị.1 Một số vấn đề về nghệ thuật tự sự 1.1 Khái niệm Nghệ thuật tự sự Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả do Lê Bá Hán chủ biên cho rằng: “Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong đời sống con người. Trong tác phẩm nhà tự sự nhà văn cũng thể hiện tư tưởng tình cảm của mình. Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện. Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ nhiều mặt.
Nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tính khách quan đã đặt trần thuật vào vị trí của nhân tố tổ chức ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm tự sự, đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình tượng người trần thuật. “Tự sự là phương thức tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó” về nguyên tắc nó được phân biệt với phương thức trữ tình “phản ánh hiện thực trong cảm nhận chủ quan”. Vấn đề cơ bản của phương thức tự sự là kể: “nhà văn kể lại những gì xảy ra bên ngoài mình khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạo hình, tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của nhà văn” [12,371]. Do phản phản ánh hiện thực qua các sự kiện biến cố và hành vi của con người làm cho tác phẩm tự sự thường là một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện và nhân vật.
Nét đặc 9 thù của tự sự là vai trò tổ chức của trần thuật: nó thông báo về các biến cố, các tình tiết như thông báo về một cái gì đó xảy ra và đọc nhớ lại, đồng thời mô tả hoàn cảnh hành động, dáng nét các nhân vật, nhiều khi còn thêm cả những lời bàn luận. Vì phản ánh hiện thực trong tính khách quan nên về nguyên tắc đã đặt trần thuật vào vị trí của nhân tố tổ chức ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm tự sự, đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình tượng người trần thuật.2 Các yếu tố cơ bản của nghệ thuật tự sự 1. Nhân vật văn học Trong cuốn Từ điển văn học (tập 2), các tác giả từ điển định nghĩa về nhân vật: “Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong các tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa. Nhân vật, do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm văn học” [22, 86].
Còn trong Từ điển thuật ngữ văn học nhân vật văn học được định nghĩa là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật có thể có tên riêng (Tấm, Cám, Chị Dậu, anh Pha) cũng có thể không có tên riêng như thằng bán tơ, một mụ nào đó trong truyện kiều.Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người thật trong đời sống [12, 202]. Qua những quan niệm cách hiểu về nhân vật văn học có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về nhân vật văn học: Nhân vật văn học vừa là yếu tố nội dung vừa là yếu tố hình thức của một tác phẩm.
Nhân vật là điều kiện tiên quyết để khám phá, lí giải, miêu tả mang tính nghệ thuật của nhà văn về đời sống đạt đến tính toàn vẹn, có chiều sâu và sức hấp dẫn riêng đối với người đọc 10 Nhân vật có nhiều chức năng khác nhau trong tác phẩm. Đó là các chức năng cơ bản sau: Thứ nhất, chức năng miêu tả và khái quát loại tính cách con người. Thứ hai, nhân vật là người dẫn dắt bạn đọc vào thế giới khác nhau của đời sống, giúp nhà văn mở cánh cửa hiện thực rộng lớn để tiếp cận đề tài, chủ đề nào đó theo ý của nhà văn. Thứ ba, nhân vật biểu hiện tập trung tư tưởng, tình cảm, quan niệm nghệ thuật của nhà văn về thế giới con người.
Bên cạnh đó, nhân vật còn đóng vai trò tạo nên mối liên kết giữa các sự kiện trong tác phẩm hay vẫn thường gọi là cốt truyện. Cốt truyện và kết cấu Theo Từ điển Tiếng Việt: “Cốt truyện là hệ thống các sự việc làm nòng cốt cho sự diễn biến các mối quan hệ phức tạp của tính cách nhân vật loại tự sự. Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm về cốt truyện như sau: “Cốt truyện là hệ thống các sự kiện được cụ thể được tổ chức theo nhu cầu, tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ thể, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc loại hình tự sự và kịch” [ 12, 88]. Như vậy qua các khái niệm trên có thể hiểu cốt truyện là cái cốt lõi, cô đọng có liên quan đến nhân vật.
Cốt truyện trong văn học dân gian thường đơn giản, ở tiểu thuyết hiện đại cốt truyện hết sức phức tạp và thường là cốt truyện đa tuyến. Tóm lại cốt truyện là hệ thống sự kiện (biến cố) xảy ra trong đời sống nhân vật, có tác dụng bộc lộ tính cách, số phận nhân vật. Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh đời sống rộng. Thể loại này có thể chứa đựng trong đó sự phong phú về đời sống chính 11 vì vậy cốt truyện trong tiểu thuyết không bị bó hẹp trong khuân khổ như truyện ngắn.
Theo Từ điển văn học: “toàn bộ tổ chức phức tạp, bao gồm mọi mối quan hệ giữa chỉnh thể và bộ phận, giữa bộ phân và bộ phận trong tác phẩm văn học được gọi là kết cấu” [22. Từ điển thuật ngữ văn học kết cấu được định nghĩa như sau: “Kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. kết cấu thể hiện nội dung rộng rãi phức tạp hơn, tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm. kết cấu là phương tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật, kết cấu đảm nhiệm chức năng đa dạng: bộc lộ chủ đề và tư tưởng của các tác phẩm; triển khai trình bày hấp dẫn cốt truyện: cấu trúc hợp lí hệ thống tính cách; tổ chức điểm nhìn trần thuật của tác giả tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như là một hiện tượng thẩm mĩ [12,132].
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu kết cấu chính là sự tổ chức các phương diện của tác phẩm văn học. Có thể hiểu được tầm quan trọng của kết cấu trong tác phẩm. Mặt khác nếu tác phẩm không có kết cấu hợp lí thì giá trị của tác phẩm cũng bị giảm sút vì thế “cùng với ngôn ngữ, kết cấu là điều kiện tất yếu và phương tiện cơ bản của việc sáng tác nghệ thuật” [12,34]. Người kể chuyện và ngôi kể Theo Từ điển thuật ngữ văn học người kể chuyện là: “hình tượng ước lệ về người trần thuật trong văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm.
Đó có thể là hình tượng của chính tác giả (ví dụ “tôi” trong Đôi mắt của Nam Cao). Dĩ nhiên không hoàn toàn giống tác giả ngoài đời có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra (ví dụ: người 12 điên trong Nhật kí người điên của Lỗ Tấn): có thể là một người biết câu chuyện nào đó. Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện [12,191]. Trong cuốn Tự sự học – một số vấn đề lí luận và lịch sử do GS.
Trần đình Sử chủ biên, nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Phương lại cho rằng: “Người kể chuyện là một nhân vật nhưng là một nhân vật đặc biệt, có những điểm khác so với nhân vật tham gia trong tác phẩm. Người kể chuyện không chỉ là một nhân vật tham gia trong tác phẩm như các nhân vật khác mà còn có chức năng tổ chức các nhân vật khác, đánh giá về các nhân vật khác. vị trí của người kể chuyện trong tác phẩm thay đổi rất linh hoạt. Khái niệm người kể chuyện luôn gắn với ngôi kể.
Người kể chuyện có thể được kể theo ngôi thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba nhưng để có thể kể được chuyện thì người kể chuyện cần có sự hóa thân, nhập vai. Nếu kể chuyện theo ngôi thứ ba thì người kể chuyện giấu mặt, người kể chuyện đứng ở một vị trí bao quát mọi diễn biến câu chuyện và kể lại. Ở ngôi kể này cho phép người kể chuyện kể hết tất cả những gì họ biết. Ngoài hai cách kể chuyện trên thì ngôi kể thứ hai rất ít được sử dụng.
Kể theo ngôi thứ hai cũng mang cái tôi của người kể song nó mang không gian giãn cách: có một cái tôi khác, một cái tôi được kể ra chứ không phải tự kể như ngôi thứ nhất. Người kể chuyện và ngôi kể là hai khái niệm tuy khác nhau nhưng nó lại gắn bó mật thiết với nhau. Nếu người kể chuyện mang lại cái nhìn và sự đánh giá bổ sung về tư tưởng, lập trưởng, thái độ, tình cảm cho cái nhìn của tác giả, thì ngôi kể lại có ý nghĩa trong việc tạo thành giọng điệu văn bản bởi vì giọng điệu bao giờ cũng là giọng của ai đó thể hiện bằng những phương tiện ngôn từ nhất định. Nghệ thuật tự sự là một vấn đề quan trọng của thi pháp tiểu thuyết, là nền tảng giúp người đọc chiếm lĩnh những giá trị đích thực của văn chương.
Những 13 yếu tố cơ bản của nghệ thuật tự sự có thể kể đến là nhân vật văn học, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ nghệ thuật, giọng điệu, người kể chuyện và ngôi kể. Các yếu tố này giữ vai trò nhất định đồng thời cùng bổ sung cho nhau tạo thành nghệ thuật tự sự.