Chương 1: CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA TRẦN DẦN 1. Sơ lược về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Trần Dần Bất kì một nhà văn nào khi sáng tác đều để cuộc đời mình ghi dấu lên trang văn không nhiều thì ít. Những sự kiện, biến cố trong cuộc sống Trần Dần cũng ảnh hưởng không nhỏ đến thơ văn ông. Tùy mỗi giai đoạn trong cuộc đời mà Trần Dần có những sáng tác mang đặc điểm riêng của thời kì đó.
Do vậy, trong phần này, chúng tôi đặt cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ đan cài vào nhau để nghiên cứu chung. Ứng với mỗi giai đoạn cuộc đời là những tác phẩm của Trần Dần. “Cái đọc đầu đời” và sự ảnh hưởng đến cuộc đời, sự nghiệp của Trần Dần Trần Dần tên thật là Trần Văn Dần, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1926 (nhằm ngày 16 tháng 7 năm Bính Dần) trong một gia đình khá giả ở thành phố Nam Định. Trần Dần học bậc thành trung ở quê nhà, sau lên Hà Nội học tiếp và đỗ tú tài triết.
Thuở thiếu thời, ông chơi thân với Vũ Hoàng Địch (là em của nhà thơ Vũ Hoàng Chương). Họ ở gần nhà nhau, lớn lên cùng nhau, cùng bú một bầu sữa mẹ nên Trần Dần còn gọi Vũ Hoàng Địch là người anh em sữa. Hai người được gần gũi với hai nhà thơ nổi tiếng trên thi đàn lúc đó là Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Vì thế, hai người sớm có điều kiện tiếp xúc với thơ văn và trường phái Tượng trưng Pháp.
Trần Dần và Vũ Hoàng Địch đọc và tôn sùng Baudelaire, Verlaine, Rimbaud và bị thu hút bởi trường phái Tượng trưng, siêu thực. Thuở ấy, Trần Dần say mê Rimbaud, thích đời sống phiêu bạt và sự phá cách, vượt thoát mọi khuôn khổ trong thơ của nhà thơ này. Rời quê nhà lên Hà Nội học, Trần Dần lại càng có cơ hội để sống gần hơn với mộng ước tràn dâng trong lòng mình. Ông khao khát đem đến muôn trùng 21 biển lạ cho thơ.
Năm 1943, Bản đề cương văn hóa Việt Nam được công bố, có tính chất như kim chỉ nam cho mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ thời đó và kéo dài đến nhiều năm về sau. Một năm sau, khi tròn 18 tuổi, Trần Dần cho ra đời hai tập thơ đầu tay là Hồn xanh dị kì và Chiều mưa trước cửa. Hai tập thơ này hoàn toàn chưa có chút ảnh hưởng nào bởi bản đề cương đó. Một năm sau nữa, ở tuổi 19 hừng hực ước mộng và quyết tâm, Trần Dần chấp bút viết Tuyên ngôn thơ Tượng trưng để khai mở một dòng văn chương khác.
Ngày 16-11-1946, Trần Dần cùng với Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch thành lập nhóm thơ Tượng trưng Dạ Đài với dòng tuyên ngôn: “Chúng tôi – một đoàn thất thổ – đã đầu thai nhằm lúc sao mờ. Cho nên buổi chúng tôi xuất hiện, chúng tôi để cho tàn suy giấc mơ của những người thuở trước. Lúc này cũng là giai đoạn thoái trào của chủ nghĩa lãng mạn Việt Nam. Chủ nghĩa lãng mạn Việt Nam đã đi hết con đường lịch sử của nó.
Đã đến lúc, chính bản thân các nhà thơ nhận thấy rằng, không thể tiếp tục con đường đi của chủ nghĩa lãng mạn, cần thiết và cấp bách phải có lối ra cho thơ ca Việt Nam. Chính vì vậy, cũng như nhóm Xuân Thu, nhóm Dạ Đài tuyên ngôn rời bỏ chủ nghĩa lãng mạn để tìm đến một ngã rẽ khác cho nền thơ Việt: con đường theo khuynh hướng tượng trưng. Ngoài ra, nhóm Dạ Đài cũng đưa ra yêu cầu đối với ngôn ngữ trong sáng tác thơ ca. Đó là sự tương giao cảm giác chịu ảnh hưởng từ trường phái Tượng trưng Pháp: “phải dùng những âm thanh huyền diệu, vốn được khơi gợi từ âm nhạc; dùng sự tương giao cảm giác để miêu tả được cái vô biên của thế giới.
Ngôn ngữ phải tân kì” [27]. Nhóm phát hành số báo Dạ Đài 1 với bao hăm hở mơ mộng về một nền thơ khác có thể “chôn tiền chiến” trong văn học Việt Nam. Cùng năm này, Trần Dần viết Về nẻo thanh tuyền (thơ). 22 Hòa mình cùng người người lớp lớp Ngày 19-12-1946, khi số báo Dạ Đài 2 chưa kịp ra đời thì kháng chiến chống Pháp bùng nổ.
Trần Dần như bao thanh niên thời ấy xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung, đã trở về quê hương tham gia công tác thông tin tuyên truyền ở Vụ Bản rồi làm công tác tuyên truyền, địch vận ở Sở tuyên truyền khu IV cùng Vũ Khiêu, Vũ Hoàng Địch… Từ đây, Trần Dần, noi theo tấm gương của Maiakovsky – người Trần Dần dành cho nhiều sự đồng cảm, dấn thân vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Trong ý thức của Trần Dần lúc này, cách mạng về thơ ca trước hết phải tìm thấy qua cuộc cách mạng đang sục sôi đất nước này. Trần Dần tham gia kháng chiến với tất cả lòng nhiệt huyết. Đón nhận cách mạng, người thanh niên trẻ tuổi ấy muốn hiến dâng đời mình cho sự nghiệp của cả dân tộc.
Đồng thời cũng muốn làm một cuộc cách mạng trong thơ văn. Trần Dần không chấp nhận một cách viết như cũ và tìm mọi cách để thể hiện sự sáng tạo của mình. Trong thời gian này, Trần Dần cùng Trần Thư, Hoài Niệm sáng lập nhóm Văn nghệ quân đội đầu tiên – nhóm Sông Đà. Tất bật với cuộc kháng chiến nhưng ý thức về sự sáng tạo chưa bao giờ rời bỏ Trần Dần, ông thử nghiệm làm thơ bậc thang học theo Maiacopxki, vẽ tranh lập thể.
Những sáng tác của ông được nhiều người đón nhận nhưng phần đông cho là khó hiểu. Năm 1954, Trần Dần tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ cùng với Đỗ Nhuận, họa sĩ Tô Ngọc Vân. Khí thế bừng bừng của cuộc chiến cộng với sự hi sinh của người bạn thân thiết Tô Ngọc Vân đã để lại dấu ấn sâu sắc và nỗi đau trong lòng Trần Dần. Tiểu thuyết Người người lớp lớp được sáng tác dựa trên kỉ niệm khó phai này.
Quyển tiểu thuyết viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn thời ấy nhưng vẫn thể hiện được lòng đam mê theo đuổi sự sáng tạo của Trần Dần. Có thể thấy Trần Dần quyết tâm không bao giờ đi vào lối mòn, lặp lại những điều đã cũ trong văn chương. Sau đó ít lâu, Trần 23 Dần được cử sang Trung Quốc viết thuyết minh phim Chiến thắng Điện Biên Phủ. Thời gian này ở Trung Quốc dậy lên vụ án Hồ Phong - với những tư tưởng được xem là phản động.
Trần Dần không thể ngờ rằng, chẳng bao lâu sau đó, số phận ông sẽ gắn với con người mà ông chưa từng biết tên, biết mặt đó. Trần Dần viết Anh đã thấy (thơ - 1954), Tiếng trống tương lai (thơ, đã trích đăng trong Văn Nghệ Quân Đội năm 1954). Nhân Văn Giai Phẩm – “nỗi buồn ga cuối còn nguyên” Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Trần Dần trở về Hà Nội, yêu và muốn kết hôn với một người con gái có gia đình di cư vào Nam. Bị chính quyền phản đối, tháng 4/1955, Trần Dần viết đơn xin giải ngũ và ra khỏi Đảng để sống trọn vẹn mối tình của mình.
Cũng trong thời gian này, ông cùng Đỗ Nhuận, Tử Phác, Hoàng Tích Linh, Hoàng Cầm, Trúc Lâm đệ trình bản Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hóa văn nghệ thông thoáng, tự do với anh em văn nghệ sĩ hơn với các yêu cầu như: tự do sáng tác, trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ, thủ tiêu hệ thống chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội, sửa đổi chính sách văn nghệ trong quân đội,… Vì những hành động táo bạo này mà Trần Dần bị tạm giam theo quân kỷ trong 3 tháng (từ tháng 6 đến tháng 9/1955) để kiểm thảo ở đơn vị. Thời gian này, Trần Dần viết Cách mạng tháng Tám (thơ), Nhất định thắng (thơ). Sau đó, ông tham gia cải cách ruộng đất đợt 5 tại Bắc Ninh từ tháng 11/1955 đến tháng 2/1956. Trong thời gian này, ở Hà Nội, Hoàng Cầm cho đăng bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần trong tạp chí Giai Phẩm Mùa Xuân.
Tờ tạp chí bị tịch thu. Khi ông kết thúc đợt cải cách ruộng đất, trở về Hà Nội, Hội Văn nghệ tổ chức hội nghị phê bình bài thơ Nhất định thắng. Trần Dần bị kết án là đồ đệ của Hồ Phong, mất lập trường giai cấp, đi ngược lại đường lối của Đảng và bị giam trong nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội; trong khi ở nhà bà Ngọc Khuê – vợ Trần Dần sinh con gái đầu lòng trong thiếu thốn, vất 24 vả. Tháng 9 cùng năm, báo Nhân Văn do Phan Khôi chủ nhiệm ra đời.
Trong số 1 có đăng bài “Tiến tới xét lại một vụ án văn học: con người Trần Dần” của Hoàng Cầm. Trong đó, Hoàng Cầm đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng nhằm giải oan cho Trần Dần trước sự tấn công của dư luận. Ngày 20-28/2/1956, Đại Hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 2 tại Hà Nội với gần 500 đại biểu, kêu gọi đấu tranh đập nát luận điệu phản động của Nhân Văn - Giai Phẩm. Thành lập Hội Liên Hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam.
Ngày 1-5/4/1956, Hội nghị thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam, nhà văn Tô Hoài làm tổng thư ký, cơ quan ngôn luận là báo Văn. Trong báo Văn số 28, ra ngày 15/11/1956, có đăng bài thơ Hãy đi mãi của Trần Dần. Cũng trong năm này, Trần Dần viết Bài thơ Việt Bắc (trường ca, xuất bản năm 1991). Đến 15/12/1956, báo Nhân Văn bị thông báo đóng cửa, khi mới chỉ ra được 5 số, và vẫn chưa giúp Trần Dần nhận được sự thấu hiểu của mọi người.
Tháng 7/1958, cùng với các nghệ sĩ Nhân văn – Giai phẩm khác, Trần Dần chịu kỉ luật: bị khai trừ khỏi Hội nhà văn Việt Nam và bị đình chỉ xuất bản trong 3 năm. Trên thực tế, thời hạn này của ông kéo dài đến gần 30 năm. Sau đó, ông còn phải tham gia lao động cải tạo tại nông trường Chí Linh cùng với Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Tử Phác. Dù đang chịu nhiều gian khổ, bệnh tật và oan ức nhưng Trần Dần vẫn không nguôi chí hướng sáng tạo.
Chỉ trong một năm 1959, ông cho ra đời ba tác phẩm: Sắc lệnh 59 (thơ), Con tầu xã hội (thơ), 17 tình ca (thơ). Và bắt đầu viết Cổng tỉnh (thơ-tiểu thuyết), đến năm 1960 thì hoàn thành (xuất bản lần đầu năm 1994). Tháng 11/1959, Trần Dần được phân công dịch tại ga-ra Hội Nhà Văn cùng với Lê Đạt, Phùng Cung, Nguyễn Khắc Dực. Năm 1960, ông lao động cải tạo tại khu gang thép Thái Nguyên và bị ốm nặng, trở về Hà Nội.