Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Raymond Carver là nhà văn có tầm ảnh hưởng lớn không chỉ trong phạm vi nước Mỹ thế kỉ XX mà đến nay, sáng tác cũng như cuộc đời, tiểu sử. của ông vẫn tiếp tục gây nhiều tranh cãi và là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều nước. Tuy nhiên, do điều kiện sưu tầm cũng như khả năng tập hợp, xử lí tư liệu nên bước đầu chúng tôi mới chỉ khảo sát được một số tài liệu nhất định dưới đây. Những nghiên cứu về lí thuyết phi trung tâm 1.
Nghiên cứu về lí thuyết phi trung tâm ở nước ngoài Khái niệm hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại, đến nay, không còn mới mẻ, tuy vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng không thể phủ nhận sự tồn tại của chúng là có thật. Từ Jean-François Lyotard (1924-1998) với Hoàn cảnh hậu hiện đại, J. Derrida (1930-2004) với Cấu trúc, kí hiệu và trò chơi trong diễn ngôn các khoa học nhân văn cho đến Liviu Petrescu (1941-1999) với Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại,. chủ nghĩa hậu hiện đại đã được bàn luận một cách thấu đáo và hệ thống từ hoàn cảnh ra đời cho đến những vấn đề về thuật ngữ, thi pháp.
Không phải ngay từ đầu, khi khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại được xác lập thì các khái niệm mang tính định đề như phi trung tâm, liên văn bản, đa trị, trò chơi. cũng xuất hiện. Trải qua quá trình phân tích, chứng minh trên nhiều bình diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, thông tin, công nghệ,. nghĩa là có sự tác động tổng hợp nhiều yếu tố, các nhà nghiên cứu hậu hiện đại đã rút ra được những khái niệm mang tính bản chất nhất, đặc thù nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại.
Nhà nghiên cứu hậu hiện đại quan niệm thế giới là một khối hỗn độn (chaos). Các sự vật, hiện tượng đan bện, gắn kết vào nhau, chúng tồn tại không theo một trật tự nào mà mang tính ngẫu nhiên (contigency). Thừa nhận có sự tồn tại hỗn độn ấy nghĩa là thừa nhận sự xuất hiện có tính ngẫu nhiên. Do vậy, không có gì là trung tâm hoặc có xu hướng trở thành trung tâm trong thế giới ấy.
Và đặc tính “phi trung tâm” ngay lập tức có mặt, thế chân cho tính “trung tâm” vốn tồn tại trong quan niệm trước kia. Đặc biệt, nguyên tắc trò chơi xuất hiện chính thức loại bỏ quan niệm cấu trúc có tính trung tâm - được trung tâm hoá, đồng thời xác lập sự tồn tại của khái niệm phi trung tâm bên cạnh khuynh hướng từ bỏ quan niệm tổng thể của tác phẩm và xác lập quan niệm mới về tính đa trị của văn bản cùng một số nguyên tắc 6 đặc thù khác của chủ nghĩa hậu hiện đại như: mảnh vỡ (phân mảnh), hỗn độn, hư vô, rễ chùm. Chặng mốc này có thể được xem là một cuộc cách mạng của chủ nghĩa hậu hiện đại về nhận thức cũng như trong lí luận và khơi mở cho thực tiễn tiếp nhận văn bản sau này. Khái niệm “trung tâm” vốn xuất hiện trong chủ nghĩa cấu trúc như là một sự định danh, định tính của chủ nghĩa hiện đại.
Derrida cho rằng: “trung tâm là phần cốt lõi có tính chất sinh tử của mọi hệ thống: đó là nơi mà chúng ta sẽ không có một phương cách nào thay thế nếu bị khiếm khuyết. Tại trung tâm, một nhân tố duy nhất có thể hiện hữu là yếu tố trung tâm: không có bất cứ một thành tố nào trong hệ thống có thể thay thế được nó - trung tâm bao giờ cũng mang tính tuyệt đối” (Dẫn lại theo Lã Nguyên) [172]. Từ việc phân tích đặc điểm của vai trò trung tâm trong hệ thống thần học Thiên Chúa giáo La Mã (lấy Thượng Đế làm minh hoạ) cho đến khuôn mẫu của lí thuyết ngôn ngữ Saussure, Derrida đi đến kết luận: “trung tâm của một hệ thống là yếu tố không có giá trị tương đương và không có bất cứ một yếu tố nào trong hệ thống có thể thay thế hay hoán đổi, nó là khởi thuỷ và cũng là chung cục cho mọi yếu tố trong hệ thống quy chiếu đến”. Từ đó, ông chỉ ra, “trung tâm là một phần tạo nên hệ thống mà không thuộc về hệ thống, không phải là một thành phần của tính toàn thể, tính chất trung tâm tự bản chất của nó đã bị phi trung tâm hoá (decentralization) (Bằng chứng là Thượng Đế sáng tạo thế giới và vũ trụ, điều hành vũ trụ nhưng không phải là một yếu tố của vũ trụ).
Thậm chí là “không thể và không bao giờ có một hệ thống lí thuyết mang tính chất toàn trị vì trong bất cứ một hệ thống nào cũng đều có những nhân tố tự do vượt thoát ra ngoài sự chi phối của trung tâm mà ông gọi đó là trò chơi của ngôn ngữ (play of language)” [171]. Derrida đã tư duy về “trò chơi” từ phía không hiện hữu, phi trung tâm. Ông viết: “Đã đến lúc phải nghĩ rằng không có trung tâm nào cả, không thể hình dung về trung tâm trong hình thức của một hữu thể hiện hữu, trung tâm không phải là thứ tự nhiên, cũng không phải một tiêu điểm cố định mà là một chức năng, một phi tiêu điểm (nonfocus) cho phép vô số sự thay thế của các kí hiệu hoạt động. Đó chính là lúc ngôn ngữ xâm lấn khắp cái phổ quát, là lúc mà, trong sự vắng mặt của một trung tâm hay nguồn gốc, mọi sự đều trở thành diễn ngôn - giả định như chúng ta có thể đồng ý về từ này - nghĩa là, một hệ thống, trong đó, cái được biểu đạt trung tâm, cái được biểu đạt khởi nguyên hay siêu nghiệm không bao giờ nằm hoàn toàn bên ngoài một hệ thống của những khác biệt.
Sự vắng mặt của cái được 7 biểu đạt siêu nghiệm đã mở rộng phạm vi và trò chơi của sự biểu đạt nghĩa đến vô tận” [Dẫn lại 15,119-120]. Tiếp đến, trong Cấu trúc, kí hiệu và trò chơi trong diễn ngôn các khoa học nhân văn (Structure Sign and Play in the Discourse of Human Sciences), từ việc nhận thấy trung tâm vừa chi phối cấu trúc đồng thời vừa thoát khỏi cấu trúc tính, J. Derrida viết: “Trung tâm là điểm mà tại đó sự thay thế các nội dung, các thành tố hoặc các thuật ngữ không còn có thể nữa. Tại trung tâm, phép hoán vị của sự thay đổi các thành tố (dĩ nhiên chúng có thể là những cấu trúc bao bọc bên trong một cấu trúc) bị ngăn cấm.
Ít nhất, phép hoán vị này luôn chứa đựng cái bị ngăn cấm. Vì thế, nó có thể được cho là, trung tâm được tạo nên từ sự xác định duy nhất là ngay chính cái ở bên trong một cấu trúc mà nó trong khi thống trị cấu trúc thì vượt thoát ra khỏi cấu trúc. Điều này cắt nghĩa vì sao quan điểm cổ điển về cấu trúc cho rằng: thật nghịch lí, trung tâm ở bên trong cấu trúc và bên ngoài nó. Trung tâm nằm tại trung tâm của tổng thể (không phải là một phần của tổng thể), tổng thể có trung tâm của nó ở một nơi nào khác”.
Từ đó, Derrida đi đến khẳng định: “Trung tâm không phải là trung tâm” (“Center is not the center”) [93,279]. Khi ông đưa ra tiên đề (axiomatic) này, thực chất là cách ông khẳng định một điều trở thành hiển nhiên, không có “trung tâm” mà luôn là “phi trung tâm”. Do vậy, phần cuối cùng ở trang này, J. Derrida tiếp tục nhấn mạnh: “toàn bộ lịch sử của khái niệm cấu trúc phải được coi như là một chuỗi những thay thế của trung tâm cho trung tâm” (“the entire history of the concept of structure must be thought of as a series of substitutions of center for center”) [93,279].
Và khi đề cập đến sự cần thiết phải giải trung tâm trong cấu trúc, J. Derrida đã mở rộng khái niệm và vai trò của “trung tâm”, trong lịch sử tư duy phương Tây: “Chức năng của trung tâm không chỉ là định hướng, giữ cân bằng, và tổ chức cấu trúc - cái không thể hình thành một cấu trúc không được tổ chức trong thực tế - mà hơn hết, nó tạo ra một sự chắc chắn rằng những nguyên tắc tổ chức của một cấu trúc sẽ giới hạn những gì chúng ta vẫn gọi là trò chơi tự do của cấu trúc” [93,278]. Và Derrida phân biệt đặc thù của chủ nghĩa hiện đại là sự đồng nhất của trung tâm bằng tư tưởng về chủ thể hay tư tưởng về tác giả thì đến chủ nghĩa hậu hiện đại là khuynh hướng giảm thiểu vai trò sáng tạo của tác giả trong tính độc đáo của văn bản văn học, dẫn tới tuyên bố sự biến mất của người kể chuyện. Đồng thời, Jacques Derrida khi phê phán cơ sở của chủ nghĩa cấu trúc dựa vào nền tảng một trung tâm đã chỉ ra những hạn chế của quan niệm một trung tâm 8 đối với trò chơi tự do, và tác giả so sánh, theo chủ nghĩa cấu trúc, trung tâm là không thể thay thế được, là “sự đóng khung” mang tính bền vững và giới hạn những khả năng của “trò chơi tự do” (“free play”), trong khi đó, thực tế là, ông chứng minh một trung tâm đã được thay thế cho một trung tâm khác, từ đó tạo nên sự thay đổi nhận thức luận.
Khái niệm phi trung tâm trong cuốn Postmodern terms - Absence to Curtain Wall (Thuật ngữ hậu hiện đại - Sự thiếu vắng để che phủ bức tường) được định nghĩa là “nhìn thế giới qua những đôi mắt khác hoặc tập hợp các quan điểm khác về thế giới qua tầm nhìn của riêng mình” [182]. Nghĩa là khái niệm đã chú ý đến người viết và người đọc khi đặt quan điểm riêng và chung ngang nhau. Theo Từ điển Oxford, mục từ “phi trung tâm” lại được chú ý ở phạm vi chủ thể con người (mở rộng ra có thể là nhân vật, tác giả, bạn đọc.) với việc “loại bỏ hoặc thay đổi chủ thể cá nhân con người, chẳng hạn như tác giả của một văn bản khỏi một vị trí chính hoặc khỏi vai trò trung tâm” [184]. Cũng có ý kiến cho rằng: “Tuy vậy, phi trung tâm hậu hiện đại được xác định không phải bằng sự vắng mặt của tất cả trung tâm mà bằng đa trung tâm như là sự nổi bật của nhiều trung tâm và sự khẳng định trung tâm này hoặc trung tâm khác, bao gồm những nhóm và khu vực trước đây được xem là thứ yếu” [183].