CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG Bối cảnh Việt Nam có điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi cho cây mía sinh trưởng và phát triển. Theo ước tính của Tổng cục Thống kê (GSO) năm 20151, cả nước có 284,5 nghìn ha đất trồng mía, năng suất trung bình đạt 64,4 tấn/ha, sản lượng mía cả nước năm 2015 đạt 18. Trong đó, diện tích trồng mía có hợp đồng bao tiêu sản xuất với các nhà máy đường khoảng 240 nghìn ha (84% diện tích).
Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) cho biết, sản lượng mía ép niên vụ 2016–2017 dự kiến hơn 15 triệu tấn, đạt trên 1,4 triệu tấn đường, trong đó 50% là đường tinh luyện.1 Diện tích và năng suất trồng mía cả nước 350 70 300 60 250 50 200 40 150 30 100 20 50 10 0 0 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Sơ bộ 2015 Diện tích gieo trồng (nghìn ha) Năng suất (tấn/ha) (Nguồn: GSO/Niên giám thống kê) 1 GSO (2015), Niêm giám Thống kê 2015 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Thông qua cơ chế hạn ngạch và thuế quan, Chính phủ hiện đang áp dụng các biện pháp bảo hộ ở mức cao với ngành mía đường. Năm 2015, hạn ngạch nhập khẩu đường của Việt Nam là 81.000 tấn, tương đương 6% tổng nhu cầu đường nội địa. Thuế nhập khẩu ưu đãi trong hạn ngạch nhập khẩu là 25% đối với đường thô và 40% đối với đường trắng. Trong khi thuế suất ngoài hạn ngạch nhập khẩu lên tới 80% - 100%2.
Tuy nhiên, theo cam kết mở cửa thị trường trong khối ASEAN, đến năm 2018, Việt Nam sẽ phải xóa bỏ hoàn toàn hạn ngạch, thuế quan cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN, thuế nhập khẩu đường sẽ giảm từ 80% xuống còn 5%. Thị trường đường dự báo sẽ khó khăn hơn cho doanh nghiệp nội địa khi có sự cạnh tranh mạnh mẽ từ nước ngoài. So sánh năng suất mía Việt Nam và Thái Lan Nguồn: Công ty CP Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), 2014 Hơn nữa, năng suất, chất lượng mía Việt Nam hiện thấp hơn mặt bằng chung thế giới. Năng suất trung bình thế giới hiện khoảng 70 tấn mía/ha, trong khi của Việt Nam chỉ 64–65 tấn/ha, thấp hơn hẳn so với Thái Lan với 74 tấn/ha, Trung Quốc là 70 tấn/ha, Philippines là 67 tấn/ha.
Tỷ lệ chữ đường trong mía của Việt Nam cũng thấp, chỉ đạt 10% so với mức 12,9% 2 Chính phủ (2016), Nghị định số 122/2016/NĐ-CP Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 của Thái Lan, 11% của Trung Quốc và Philippines3. Hiện nay, giá đường Thái Lan rẻ hơn đường Việt Nam khoảng 13% - 15% (BVSC, 2015). Với tập quán canh tác thủ công, thâm dụng lao động, chi phí lao động đang ngày càng trở thành gánh nặng đối với ngành mía đường Việt Nam khi mặt bằng lương của người lao động tăng. Hoạt động cơ giới hóa, tập trung sản xuất vẫn còn nhiều hạn chế, năng suất chưa được cải thiện.
So sánh chữ đường Việt Nam và Thái Lan Nguồn: BVSC, 2014 Hậu quả của chương trình 1 triệu tấn đường giai đoạn 1995–2000 là nhiều nhà máy đường ra đời mà không có quy hoạch vùng nguyên liệu dẫn tới không có đủ nguyên liệu sản xuất. Tình trạng “được mùa mất giá, được giá mất mùa”, trồng hay chặt bỏ mía một cách tự phát, tranh mua nguyên liệu giữa các nhà máy diễn ra thường xuyên, đây cũng là lý do khiến các nhà máy không chủ động được nguồn nguyên liệu, đẩy giá thành sản xuất mía đường cao hơn đáng kể (SRI, 2016). 3 Thông tin được TS. Cao Anh Đương, Phó Viện trưởng SRI chia sẻ trong phỏng vấn sâu năm 2017.
(xem phụ lục 8) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Một vấn đề khác là tình trạng đường nhập lậu tràn lan trên thị trường Việt Nam. Số đường nhập lậu vào Việt Nam qua biên giới Campuchia tại ĐNB mỗi năm theo ước tính của VSSA lên tới 400. Giá bán buôn đường RS của Việt Nam tháng 6/2017 là 16.000 đồng/kg, cao hơn đường RS Thái Lan nhập lậu khoảng 2.000 đồng/kg5, tình trạng này làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà máy trong nước, đặc biệt dẫn đến tình trạng tồn kho đường. Theo VSSA, đường tồn kho đến tháng 5/2017 ở mức 717.000 tấn, riêng tồn kho đường tại các nhà máy là 675.
Vùng ĐNB có tồn kho đường lớn nhất cả nước với lượng tồn kho là 235. ĐNB là một trong những vùng sản xuất mía đường lớn nhất cả nước với hai nhà máy sản xuất đường tinh luyện có thị phần lớn nhất Việt Nam là Đường Biên Hòa và Đường Thành Thành Công Tây Ninh, chiếm lần lượt 26% và 17% thị phần cả nước (LMC International, 2012). Vùng ĐNB bao gồm Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa–Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh cũng là vùng kinh tế lớn nhất cả nước, là thị trường tiêu thụ đường hàng đầu (LMC International, 2012) do sự tập trung của các nhà máy sản xuất công nghiệp sử dụng đường như nguồn nguyên liệu đầu vào quan trọng. Năm nhà máy đường hoạt động trên địa bàn ĐNB đang đối mặt với thách thức từ thiếu vùng nguyên liệu, thị trường cạnh tranh cao, không chỉ với đường sản xuất trong nước mà còn cạnh tranh với đường nhập lậu qua cửa khẩu với Campuchia.
Cụm ngành mía đường ĐNB có nhiều vấn đề tồn tại cần giải quyết, từ khâu sản xuất đến tiêu thụ. 4 Hoàng Hùng và Bảo Trị (2017), Ngăn chặn nhập lậu đường qua vùng biên giới, Báo Nhân dân điện tử, ngày truy cập 1/2017, link http://www.vn/xahoi/tin-tuc/item/31884602-ngan-chan-nhap-lau- duong-qua-vung-bien-gioi.html 5 Thiên Thảo (2017), Đường tồn kho do nhập lậu?, Doanh nhân Sài Gòn Online, link truy cập ngày 13/6/2017: http://www.vn/van-de/duong-ton-kho-do-nhap-lau/1203298/ 6 Ng. Nga (2017), Đường tồn kho tăng kỷ lục, Báo Thanh niên điện tử truy cập ngày 11/5/2017, link: http://thanhnien.vn/kinh-doanh/duong-ton-kho-tang-ky-luc-833978.html TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vùng Đông Nam bộ và vị trí các nhà máy đường Nguồn: Google map/Wikipedia Vấn đề chính sách Trước viễn cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, ngành mía đường Việt Nam nói chung, ĐNB nói riêng cần có những quyết sách đúng, phù hợp để giải quyết những vấn đề tồn tại về vùng nguyên liệu, giá thành sản xuất, năng suất, chất lượng để hoạt động hiệu quả và phát triển.
Hiện nay, ngành mía đường đang được bảo hộ bằng các hàng rào thuế quan và hạn ngạch ở mức cao hơn nhiều ngành khác. Tuy nhiên, trong tương lai không xa, khi các hàng rào này được dỡ bỏ hoàn toàn thì liệu ngành mía đường có khả năng cạnh tranh và tồn tại được nữa hay không là câu hỏi được đặt ra. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Luận văn nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành mía đường khu vực Đông Nam Bộ” mong muốn đưa ra những phân tích đánh giá khả năng cạnh tranh của cụm ngành mía đường ĐNB nhằm đưa ra những khuyến nghị chính sách để củng cố và phát triển cụm ngành trong tương lai. Câu hỏi nghiên cứu Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả tập trung tìm hiểu, phân tích để làm rõ hai câu hỏi sau đây: 1.
Yếu tố nào tác động mạnh nhất tới năng lực cạnh tranh cụm ngành mía đường khu vực Đông Nam Bộ? 2. Cụm ngành mía đường khu vực Đông Nam Bộ có khả năng cạnh tranh được không khi các hàng rào bảo hộ được gỡ bỏ? Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, áp dụng mô hình kim cương đánh giá năng lực cạnh tranh cụm ngành của Michael E. Porter7 để phân tích thế mạnh, năng lực hiện tại cũng như những trở ngại trong phát triển cụm ngành mía đường ĐNB. Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh tương quan giữa ngành mía đường vùng ĐNB với ngành mía đường Đông Bắc Thái Lan, một quốc gia láng giềng tương đồng để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của cụm ngành mía đường khu vực ĐNB.
Nguồn thông tin Nguồn thông tin sử dụng trong nghiên cứu bao gồm thông tin thứ cấp từ Niên giám Thống kê, báo cáo nghiên cứu trong và ngoài nước, các bài phân tích, bình luận, báo cáo đánh giá ngành của các công ty chứng khoán, báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Nguồn thông tin sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn chuyên gia, nông dân địa phương, và các doanh nghiệp. Porter (1990, 1998, 2008), The Competitive Advantage of Nations TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh và cụm ngành Nghiên cứu năng lực cạnh tranh ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm của giới học thuật cũng như các nhà quản lý chính quyền trung ương và địa phương.
Một trong những nghiên cứu nổi bật nhất về năng lực cạnh tranh là của Michael Porter (1998). Theo đó, Porter đưa ra định nghĩa đầu tiên về năng lực cạnh tranh dựa trên năng suất. Lợi thế so sánh truyền thống tới từ tài nguyên thiên nhiên hay lao động không còn là nguồn gốc tạo ra sự thịnh vượng, mà năng suất mới là yếu tố quan trọng tạo ra của cải, việc làm, từ đó thay đổi diện mạo của cả nền kinh tế (Porter, 1998). Trong lý thuyết cạnh tranh của mình, Porter đề cao vai trò của các cụm ngành (cluster) trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, theo đó năng lực cạnh tranh của mỗi công ty, mỗi ngành công nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào hệ sinh thái kinh doanh hay cụm ngành trong đó doanh nghiệp hoạt động.
Khái niệm cụm ngành lần đầu tiên được Alfred Marshall đưa ra năm 1890 với định nghĩa cụm ngành là sự tập trung của các ngành chuyên môn tại một khu vực địa lý, Marshall gọi đó là các khu vực công nghiệp. Sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp cùng ngành tạo ra nhiều lợi thế như giảm bớt cạnh tranh trực tiếp, mang lại lợi nhuận cao hơn cho các doanh nghiệp khi tận dụng lợi thế theo quy mô. Cụm ngành được Porter định nghĩa là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính liên kết cũng như các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ khác (như trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại.) vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau. Cụm ngành được gắn kết bởi sự tương hỗ và cộng hưởng, bởi các tác động lan tỏa tích cực (M.
Porter, 1990; Vũ Thành Tự Anh, 2016). Theo Baptista và Swann (1998), sự tập trung về mặt địa lý là rất quan trọng cho việc cải thiện tổ chức và cải tiến công nghệ.