phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc cấu trúc thành ba chƣơng nhƣ sau : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Tổng công ty 36 Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Tổng công ty 36 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH Ở DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về vốn của doanh nghiệp. Khái niệm, đặc trưng về vốn kinh doanh. Khái niệm vốn kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trƣờng bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh đều với mục đích sản xuất ra sản phẩm, hàng h a và dịch vụ để trao đổi với các đơn vị kinh tế khác nhằm tối đa h a lợi nhuận. Nhƣng để tiến hành sản xuất kinh doanh thì cần thiết phải c vốn. Vậy vốn kinh doanh là gì ? Vốn kinh doanh là một phạm trù kinh tế, luôn đ ng một vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để định nghĩa vốn là gì các nhà kinh tế đã tốn rất nhiều công sức và mỗi ngƣời đều c những định nghĩa riêng, theo quan điểm riêng của mình.
Theo các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận dƣới g c độ hiện vật:“Vốn là một trong các yếu tố đầu vào để SXKD (đất đai, tài nguyên, lao động). Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ SXKD (máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, sản phẩm,…”. Ƣu điểm của quan điểm này là đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với trình độ quản lý thấp. Nhƣng hạn chế lớn nhất của quan điểm này ở chỗ: Không tính đến phần vốn tài chính, phần vốn c ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động SXKD của DN trong nền kinh tế thị trƣờng và mục địch sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Theo quan điểm của Marx - nhìn nhận dƣới giác độ của các yếu tố sản xuất, ông cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Định nghĩa về vốn của Marx c tầm khái quát lớn vì n bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn. Bản chất 8 của vốn chính là giá trị cho dù n c thể đƣợc biểu hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau: nhà cửa, tiền của… Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dƣ vì n tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ kinh tế lúc bấy giờ, Marx đã chỉ b hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ c sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dƣ cho nền kinh tế.
Theo Paul-Sammelson, nhà kinh tế học theo trƣờng phái tân cổ điển đã kế thừa quan niệm các yếu tố sản xuất của trƣờng phái cổ điển và chia yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ra làm ba loại: đất đai, lao động và vốn. Theo ông, Vốn là hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (theo cuốn “Kinh tế học - một phân tích ban đầu xuất bản năm 1948”). Khái niệm này không đề cập đến các loại tài sản khác, các giấy tờ c giá trị c thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đ , cũng không phản ánh đầy đủ mặt tài chính của vốn.
Còn theo David Begg, tác giả cuốn Kinh tế học thì : Vốn bao gồm hiện vật và vốn tài chính của DN. Vốn hiện vật: Là vốn dự trữ các hàng hoá đã SX mà sử dụng để SX ra các hàng hoá khác. Vốn tài chính: Là tiền và các giấy tờ có giá của DN - theo cuốn “kinh tế học” Do vậy vốn đƣa vào sản xuất kinh doanh c nhiều hình thức vật chất khác nhau để từ đ tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trên thị trƣờng. Số tiền mà doanh nghiệp thu về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp đƣợc chi phí đã bỏ ra và c lãi.
Số tiền ban đầu đã đƣợc tăng thêm nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá trình này diễn ra liên tục bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. T m lại, do c rất nhiều quan niệm về vốn nên rất kh c một định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh về vốn kinh doanh. Tuy nhiên c thể hiểu một cách 9 khái quát nhƣ sau: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời”.
Nhƣ vậy, dƣới g c độ của doanh nghiệp, vốn là yếu tố c tính chất quyết định trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng c hiệu quả không chỉ b hẹp trong quá trình sản xuất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp để doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Vì vậy việc nhận thức đầy đủ hơn về vốn giúp doanh nghiệp hiểu rõ đƣợc tầm quan trọng và giá trị của đồng vốn để sử dụng một cách c hiệu quả. Đặc trưng của vốn kinh doanh Tuỳ vào đặc điểm SXKD của từng DN mà cần c một lƣợng vốn nhất định, khác nhau giữa các DN.
Tuy nhiên, VKD c những đặc trƣng cơ bản sau đây. Thứ nhất, vốn đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Vốn là biểu hiện bằng tiền cho giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình nhƣ: nhà xƣởng, đất đai, máy m c, nguyên vật liệu, bằng phát minh sáng chế.Nhƣng vốn không đồng nhất với hàng h a, tiền tệ thông thƣờng. Tiền tệ, hàng h a là hình thái biểu hiện của vốn nhƣng chỉ khi chúng đƣợc đƣa vào quá trình SXKD của DN nhằm mục đích sinh lời, chúng mới đƣợc coi là vốn.
Với tƣ cách là vốn, các tài sản của DN tham gia vào quá trình SXKD nhƣng n không bị tiêu mất đi mà đƣợc thu hồi giá trị. Nhận thức đƣợc đặc trƣng này của vốn, các DN tìm mọi cách để khai thác, sử dụng biến vốn tiềm năng thành vốn hoạt động. Thứ hai, vốn phải được vận động nhằm mục đích sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. 10 Vốn đƣợc biểu hiện bằng tiền, nhƣng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để biến thành vốn thì đồng tiền phải đƣợc vận động sinh lời.
Trong quá trình vận động, đồng vốn c thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhƣng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị - là tiền; đồng tiền phải quay về nơi xuất phát c giá trị lớn hơn. Thứ ba, vốn là một hàng hoá đặc biệt. Vốn là một loại hàng hoá đặc biệt vì các lý do sau: Vốn là hàng hoá vì n c giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của vốn đƣợc thể hiện ở chi phí mà ta bỏ ra để c đƣợc n.
Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc ta sử dụng n để đầu tƣ vào quá trình SXKD nhƣ mua máy m c, thiết bị vật tƣ, hàng hoá. Tính đặc biệt của vốn còn thể hiện ở chỗ: N không bị hao mòn hữu hình trong quá trình sử dụng mà còn c khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân n. Chính vì vậy, giá trị của n phụ thuộc vào lợi ích cận biên của bất kỳ DN nào. Điều này đặt ra nhiệm vụ đối với các nhà quản trị tài chính là phải làm sao sử dụng tối đa hiệu quả của vốn để đem lại một giá trị thặng dƣ tối đa, đủ chi trả cho chi phí đã bỏ ra mua n nhằm đạt hiệu quả lớn nhất.
Thứ tư, vốn phải gắn liền với chủ sở hữu. Không thể c đồng vốn vô chủ và không c ai quản lý mà vốn luôn gắn liền với chủ sở hữu nhất định. Nếu không xác định đƣợc chủ sở hữu thì việc sử dụng vốn và tài sản sẽ không đạt đƣợc mục tiêu SXKD, gây lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả. Thứ năm, vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng và sản xuất kinh doanh.
Để đầu tƣ vào SXKD, phải tập trung một lƣợng vốn đủ lớn để mua sắm máy m c thiết bị, nguyên vật liệu cho SXKD và chủ động trong các phƣơng án SXKD. Do đ , các DN ngoài việc tự huy động vốn còn phải tìm cách thu 11 hút vốn từ nhiều nguồn khác nhau nhƣ: phát hành cổ phiếu, trái phiếu, liên doanh liên kết.để đáp ứng nhu cầu của hoạt động kinh doanh (KD) ở một quy mô nhất định. Thứ sáu, vốn có giá trị về mặt thời gian. Điều này c nghĩa khi bỏ vốn đầu tƣ phải xét tính hiệu quả của đồng vốn mang lại.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, do ảnh hƣởng của qui luật cung cầu, giá cả, lạm phát và lãi suất nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau. Vai trò của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trƣờng, mọi vận hành kinh tế đều đƣợc tiền tệ h a, do vậy bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào dù ở bất cứ cấp độ nào luôn luôn cần c một lƣợng vốn kinh doanh nhất định. Vốn kinh doanh là tiền đề vật chất và c vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của DN. Đối với một số ngành, lĩnh vực thì lƣợng vốn đ tối thiểu phải bằng lƣợng vốn pháp dịnh (do Nhà nƣớc quy định).
Nếu không, doanh nghiệp sẽ không đƣợc thành lập. Và trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, lƣợng vốn doanh nghiệp không đạt điều kiện Nhà nƣớc quy định thì doanh nghiệp sẽ tự tuyên bố chấm dứt hoạt động nhƣ phá sản, sáp nhập với doanh nghiệp khác. Nhƣ vậy, với một số ngành, VKD c thể đƣợc xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tƣ cách pháp nhân của một DN trƣớc pháp luật.