chương 1 sẽ nghiên cứu các cơ sở lý luận chung về các khái niệm, đặc điểm, vai trò, các tiêu chí đánh giá, các hoạt động và các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp. Và cuối cùng là đưa ra ví dụ thực tế về hai công ty cùng ngành để từ đó rút ra bài học về nâng cao chất lượng nhân lực cho công ty TNHH Eikoh Việt Nam. Một số khái niệm ơ bản 1. Khái niệm về nhân lực Nhân lực được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và là đối tượng nghiên cứu của đa dạng các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau.
Tùy thuộc vào mỗi cách tiếp cận thì sẽ có các khái niệm khác nhau về nhân lực: Theo Giáo trình Quản trị Nhân lực căn bản, Đại học Thương mại (2016) do tác giả Mai Thanh Lan và tác giả Nguyễn Thị Minh Nhàn đồng chủ biên “Nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp”. Theo Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2008) do tác giả Trần Xuân Cầu và tác giả Mai Quốc Chánh đồng chủ biên: “Nhân lực là sức lực của con người nằm trong mỗi con người giúp cho con người có thể hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động” Hiện nay, nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển thì nhân lực có vai trò hết sức quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Do vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nhân lực trong doanh nghiệp: Theo Lê Thanh Hà (2012), Giáo trình quản trị nhân lực, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội: “Nhân lực của doanh nghiệp là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, nhân viên trong doanh nghiệp đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng 11 của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức.
Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên”. Từ những khái niệm trên và trong phạm vi đề tài nghiên cứu, có thể rút ra được khái niệm tổng quát về nhân lực: “Nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của con người ở dạng thực tế và tiềm năng tham gia lao động phát triển doanh nghiệp và được doanh nghiệp trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả góp phần vào mục tiêu chung của doanh nghiệp” 1. Chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp Hiện nay, trước tình hình toàn cầu hóa – hội nhập hóa quốc tế, quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc nên việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các nền kinh tế. Do vậy, chất lượng nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh và sự thành công của mỗi quốc gia.
Theo giáo trình Nguồn nhân lực, Đại học Lao động Xã hội (2011) thì: “Chất lượng nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,.), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của người lao động và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần) của người lao động”. Theo Vũ Thị Mai, Trưởng khoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực, trường đại học Kinh tế Quốc dân: “Chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động”. Trong doanh nghiệp chất lượng nhân lực được đánh giá thông qua mối quan hệ giữa chi phí lao động với hiệu quả lao động. Chất lượng của lao động trong 12 doanh nghiệp có đạt hiệu quả cao hay thấp thì đa phần dựa vào quá trình quản lý nhân lực của nhà lãnh đạo doanh nghiệp đó.
Vì vậy, theo cách tiếp cận trong khuôn khổ luận văn thì “Chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp chính là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động trên các phương diện: thể lực, trí lực, tâm lực so với yêu cầu công việc cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp”. Nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp Nâng cao chất lượng nhân lực hàm ý chỉ việc thực hiện một số hoạt động nào đó d n đến sự thay đổi về chất lượng nhân lực tăng lên so với chất lượng nhân lực hiện có. Đó là những biểu hiện tăng lên về kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc của cá nhân mỗi con người. Nâng cao chất lượng nhân lực một mặt tạo ra nhân lực có khả năng hơn trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế; một mặt tạo ra nhân lực tự tin hơn trong quá trình làm việc tạo ra của cải vật chất cho bản thân, cho tổ chức, và tạo ra khả năng cạnh tranh bền vững nhất.
Nâng cao chất lượng nhân lực là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ l n tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã hội. Từ góc độ này, tác giả cho rằng nâng cao chất lượng nhân lực chính là nâng cao năng lực làm việc, kỹ năng xử lý công việc, và thái độ trong công việc của nhân lực đang làm việc tại doanh nghiệp. Qua đó, theo cách tiếp cận trong khuôn khổ luận văn có thể rút ra rằng “Nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp chính là nâng cao mức độ đáp ứng công việc của người lao động trên các phương diện: thể lực, trí lực và tâm lực so với yêu cầu cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp”. C ti u hí nh gi hất lƣ ng nhân lực trong doanh nghiêp Trong doanh nghiệp nhân lực không chỉ được xem xét ở góc độ số lượng mà còn được nghiên cứu cả ở khía cạnh chất lượng nhân lực.
Chất lượng nhân lực được 13 cấu thành bởi các yếu tố như thể lực, trí lực và phẩm chất nghề nghiệp, phản ánh về trình độ kinh tế - xã hội, mức sống và dân trí của con người. Do đó, để đánh giá chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp có thể dựa vào các tiêu chí đánh giá sau: 1. Tiêu chí đánh giá về thể lực Thể lực được thể hiện thông qua tình trạng sức khỏe của người lao động trong doanh nghiệp. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nêu: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải là không có bệnh hoặc thương tật”.
Sức khỏe thể chất là sức khỏe cơ thể của con người, thể hiện qua sự cường tráng, khả năng mang vác, các hoạt động vận động chân tay. Ngoài ra còn là sự dẻo dai, nhanh nhẹn, sức đề kháng chống lại bệnh tật,… Sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động, luôn cảm giác thoải mái, vui tươi, có những suy nghĩ lạc quan, quan niệm sống tích cực, dũng cảm, có khả năng chống lại áp lực, không có những suy nghĩ bi quan và luôn tạo một lối sống lành mạnh. Sức khỏe xã hội là sự hòa nhập với mọi người, với xã hội bên ngoài, được mọi người yêu mến; luôn có sự thoải mái trong các mối quan hệ giữa gia đình, bạn bè, đồng nhiệp, hàng xóm láng giềng,… Giữ thăng bằng giữa những quyền lợi cá nhân và quyền lợi xã hội. Đối với chỉ tiêu sức khỏe, thường phải khảo nghiệm thực tế như cân đo, thực hiện các kiểm tra về sức khỏe,… từ đó kết quả được đánh giá dựa trên những tiêu chuẩn nhất định.
Thông tư 13/2007/TT- BYT ngày 21/11/ 2007, Bộ Y Tế hướng d n khám sức khỏe khi làm hồ sơ dự tuyển, khám sức khỏe khi tuyển dụng, khám sức khỏe định kỹ và khám sức khỏe theo yêu cầu đối với các đối tượng là cơ sở sử dụng NLĐ, cơ sở đào tạo, dạy nghề,… với nội dung khám được qui định như sau: Khám thể lực (chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI, mạch, huyết áp); Khám lâm sàng (nội khoa, ngoại khoa, sản phụ khoa, mắt, tai - mũi - họng, răng - hàm - mặt, da liễu); Khám cận lâm sàng (xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, chuẩn đoán hình 14 ảnh). Theo đó, căn cứ vào các chỉ tiêu trên để phân loại sức khỏe thành 5 loại theo Quyết định số 1613/QĐ-BYT ban hành ngày 15/8/1997 của Bộ Y Tế về tiêu chuẩn sức khỏe - phân loại để khám tuyển, khám định kỹ: Loại I: Rất khỏe. Loại II: Khỏe. Loại III: Trung bình.
Loại IV: Yếu. Loại V: Rất yếu. Có thể nói sức khỏe là yếu tố quan trọng không thể thiếu khi đánh giá chất lượng nhân lực bởi không có sức khỏe con người sẽ không thể lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Sức khỏe nhân lực có tác động rất lớn đến năng suất lao động của cá nhân người lao động, cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu, khả năng sáng tạo trong công việc và học tập.
Tiêu chí đánh giá về trí lực Trí thức là yếu tố cơ bản của trí lực, là sự tổng hợp khái quát kinh nghiệm cuộc sống, là nhận thức lý tính. Trí lực thể hiện ở trình độ học vấn, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp so với yêu cầu của công việc mà người lao động đó đảm nhận. Trí lực là yếu tố trí tuệ phản ánh sức sản xuất và năng lực sáng tạo của người lao động, vì thế đóng vai trò quyết định trong phát triển nhân lực.