Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty 19-5, Bộ Công An. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty 19-5, Bộ Công An. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo tài liệu Giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân thì: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [7, tr. Với tác giả Lê Thị Mỹ Linh (xuất bản năm 2009): “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp” [13, tr. Như vậy qua các khái niệm nêu trên, tác giả luận văn thống nhất quan điểm rằng: Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là tổng hợp người lao động làm việc trong doanh nghiệp với những tiềm năng bản thân gồm: thể lực, trí lực, tâm lực được tận dụng trong quá trình làm việc phục vụ cho lợi ích, yêu cầu chung của doanh nghiệp mang tính lâu dài và ổn định.
Nguồn nhân lực được xét trên góc độ số lượng và chất lượng. Số lượng thể hiện qua quy mô, cơ cấu nhân lực của doanh nghiệp, chất lượng đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn, văn hóa, thể lực, kinh nghiệm làm việc và cách ứng xử, phẩm chất của người lao động. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Đại học Lao động Xã hội (2009) đã nêu rõ: “Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp về những người thuộc NNL được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc…), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực và thu 9 nhập, mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động” [8, tr. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được biểu hiện ở hiệu quả của quá trình làm việc do đối tượng lao động đó thực hiện.
Trong quá trình này, NLĐ làm việc theo quy trình cụ thể theo truyền thống làm việc của doanh nghiệp nhờ những kỹ năng đã tích lũy, được đào tạo khi được nhận vào doanh nghiệp; đồng thời dùng khả năng sáng tạo của bản thân để tạo ra những sản phẩm mới đạt hiệu quả năng suất cao. Trong luận văn này chất lượng nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được biểu hiện thông qua ba tiêu chí: Thể lực, trí lực, tâm lực. Trong đó bao gồm những yếu tố về trình độ học vấn chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc, giá trị đạo đức và lối sống cách cư xử của người lao động và các yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nâng cao chất lượng NNL là làm tăng giá trị bản thân người lao động về thể chất và tinh thần, tạo điều kiện cho họ có môi trường làm việc chuyên nghiệp để họ phát triển được năng lực, phẩm chất tốt nhất có thể đáp ứng được những yêu cầu của công việc nói riêng và đáp ứng những nhu cầu của Công ty nói chung.
Nâng cao chất lượng NNL là hoạt động tạo sự thay đổi cho nguồn nhân lực phát triển tốt hơn nguồn nhân lực hiện tại trong doanh nghiệp. Đó là sử dụng các phương pháp để tăng cường năng lực thể chất và tinh thần cho người lao độnng đạt tới mức độ nhất định phù hợp với yêu cầu của Công ty đặt ra cũng như góp phần vào sự phát triển đi lên của xã hội. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về cơ bản là tăng giá trị của nhân tố con người trên các phương diện như phẩm chất đạo đức, thể lực, năng lực, kỹ năng làm việc,…thông qua các chính sách hoạch định rõ ràng có phương hướng cụ thể của doanh nghiệp để phát triển nguồn nhân lực giúp người lao động có thể chất tốt hơn, cải thiện về trình độ học thức, kỹ năng tay nghề và 10 phẩm chất đạo đức để hoàn thành tốt hơn mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức đặt ra giúp phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Với xu thế hội nhập quốc tế cùng với sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường, các doanh nghiệp phải không ngừng thay đổi có bước chuyển mình về mọi mặt để bắt kịp với sự phát triển, đổi mới của thị trường đặc biệt đó là yếu tố về con người nguồn nhân lực.
Các doanh nghiệp cần tạo ra sự khác biệt, năng lực cạnh tranh khai thác và sử dụng nguồn vốn hiện có một cách hiệu quả nhất để tồn tại và phát triển bền vững trong điều kiện khốc liệt này. Con người là một trong những yếu tố có khả năng quyết định đến sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp vì vậy việc nâng cao chất lượng ngân lực của mỗi doanh nghiệp hiện nay là vấn đề cần thiết và được quan tâm vì ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ, sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng ra thị trường. Các yếu tố cấu thành và các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực là công việc thường xuyên ở các cơ quan, đơn vị. Mục đích của việc đánh giá là để xem xét kỹ năng chuyên môn, trình độ, kết quả thực hiện công việc; làm căn cứ để cân nhắc, đề bạt, kỷ luật, khen thưởng, thuyên chuyển; đồng thời thấy được các vấn đề bất cập về quản lý chất lượng công việc của nhân lực trong quá trình lao động.
Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực là việc so sánh, phân tích mức độ đạt được của quá trình phấn đấu, rèn luyện và thực hiện công việc của người lao động theo tiêu chuẩn, yêu cầu đề ra. Công tác đánh giá hết sức quan trọng vì những mục đích cũng như ảnh hưởng của nó đến chất lượng của người lao động và doanh nghiệp. Có nhiều tiêu chí, yếu tố cấu thành tới chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, trong phạm vi đề tài này, tác giả xin được đề cập đến một số tiêu chí, yếu tố cơ bản sau: 1. Thể lực Thể lực là tình trạng sức khỏe của con người cả về thể chất lẫn tinh thần, hai yếu tố này phải có sự hài hòa với nhau.
Linh hoạt, nhanh nhẹn, năng động trong công việc là những biểu hiện thể lực tốt. Thể lực không tốt dẫn đến việc 11 không chịu được áp lực trong công việc từ đó làm chậm tiến độ công việc đã được giao làm giảm năng suất lao động. Thể lực của NLĐ tốt hay không tốt một phần được quyết định bởi chế độ ăn uống, chăm sóc sức khỏe, rèn luyện sức khỏe hàng ngày. “Theo hướng dẫn của Bộ Y tế tại Quyết định số 1613/BYT-QĐ ngày 15/8/1997 Sức khỏe được chia thành 5 loại căn cứ vào 13 chỉ số sức khỏe, bao gồm: Thể lực chung, mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt, tâm thần - thần kinh, tuần hoàn, tiết niệu – sinh dục, hô hấp, tiêu hóa, hệ vận động, nội tiết - chuyển hóa, da liễu, u các loại.
Dựa vào các chỉ số trên, phân loại sức khỏe như sau: - Lọai I: Cả 13 chỉ số đều đạt loại I. - Lọai II: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại II, xếp loại II. - Lọai III: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại III, xếp loại III. - Lọai IV: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại IV, xếp loại IV.
- Lọai V: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại V, xếp loại V. Trí lực Trí lực là năng lực của trí tuệ và quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người. Nếu như thể lực được coi là nền tảng cơ sở thì trí lực là phần tạo nên giá trị lớn nhất của NNL. Trí lực thể hiện ở khả năng tư duy và sáng tạo.
Để phát huy được sức mạnh của NNL thì phải phát huy được những khả năng tiềm ẩn trong tiềm thức của mỗi người lao động. Trí lực được hình thành và phát triển thông qua hoạt động học tập, giáo dục (tiếp nhận tri thức trở thành kiến thức và kỹ năng của bản thân) và ngay chính trong lao động (tích lũy kinh nghiệm). Tri thức là vô hạn, vì vậy kiến thức của NLĐ phải luôn được cập nhật làm mới thích ứng với mỗi giai đoạn phát triển của kinh tế xã hội. Nâng cao trí lực chính là việc nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề, kinh nghiệm làm việc của người lao động.
- Về trình độ chuyên môn, kỹ thuật 12 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ (CMNV) là năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng cần thiết sao cho hiệu quả và có tính nhất quán để đảm bảo yêu cầu ở vị trí công việc đang đảm nhận. Trình độ chuyên môn là khả năng, năng lực và sự hiểu biết của con người chuyên về lĩnh vực nào đó, nó thể hiện kiến thức, kỹ năng được tích lũy, đào tạo trong quá trình học tập ở các cấp bậc về một hoặc một số công việc chuyên môn nhất định. Chính vì vậy, trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực được đánh giá bằng tiêu chí: Tỷ lệ nhân lực có bằng Trung cấp; Cao đẳng, Đại học; Tỷ lệ nhân lực trên Đại học. Ở bất kỳ vị trí nào, công việc nào đều phải đáp ứng yêu cầu ứng với trình độ chuyên môn nhất định.
Trình độ kỹ thuật (trình độ tay nghề, bậc thợ) của người lao động thường được dùng để chỉ trình độ của người được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, những kỹ năng thực hành về công việc nhất định.