phần mở đầu, kết luận, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, hình vẽ và danh mục từ viết tắt thì luận văn đƣợc cấu trúc gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng điều dƣỡng viên trong bệnh viện. Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng điều dƣỡng viên tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng điều dƣỡng viên tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ƣơng. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐIỀU DƢỠNG VIÊN TRONG BỆNH VIỆN 1.
Một số khái niệm 1. Điều dưỡng viên Điều dƣỡng viên: Theo từ điển Y khoa của Dorland, Điều dƣỡng viên là ngƣời phụ trách công tác điều dƣỡng, chăm sóc sức khỏe, kiểm tra tình trạng bệnh nhân, kê toa thuốc và các công việc khác để phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đến phục hồi, trị liệu cho bệnh nhân. Ở Việt Nam, trƣớc đây điều dƣỡng viên đƣợc gọi là Y tá, có nghĩa là ngƣời phụ tá của ngƣời thầy thuốc. Ngày nay, điều dƣỡng đã đƣợc xem là một nghề độc lập trong hệ thống y tế do đó ngƣời làm công tác điều dƣỡng đƣợc gọi là điều dƣỡng viên.
Điều dƣỡng viên đƣợc phân thành nhiều cấp bậc, trình độ theo các văn bản quy định của Bộ Nội vụ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể, Ngày 07/10/2015, Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Y tế ban hành thông tƣ liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh điều dƣỡng, hộ sinh, kỹ thuật y (Thông tƣ liên tịch số 26). Đối với nhóm chức danh điều dƣỡng đƣợc chia làm 3 cấp: - Điều dƣỡng hạng II, Mã số: V.11 - Điều dƣỡng hạng III, Mã số: V.12 - Điều dƣỡng hạng IV, Mã số: V. Chất lượng điều dưỡng viên Điều dƣỡng viên là một bộ phận nguồn nhân lực trong bệnh viện nên điều dƣỡng viên cũng có những đặc điểm chung của nguồn nhân lực trong một tổ chức và đƣợc đánh giá chất lƣợng trên những tiêu chí chung thống nhất.
Do đó, để hiểu rõ chất lƣợng điều dƣỡng viên thì trƣớc hết cần hiểu rõ chất lƣợng nguồn nhân lực trong bệnh viện. 10 Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ sau: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”. [10, tr55] Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng cạnh tranh cao và hội nhập sâu rộng thì chất lƣợng nguổn nhân lực đƣợc coi là chỉ tiêu quan trọng phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống của con ngƣời trong một xã hội nhất định. Theo Phùng Rân thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc đo bằng 2 tiêu chí: “là năng lực hoạt động của NNL và phẩm chất đạo đức của NNL đó”[21,tr 2].
Năng lực hoạt động có đƣợc thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc đƣợc đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và kỹ năng giải quyết công việc. Phẩm chất đạo đức là khả năng giám nghĩ, giám làm, giám chịu trách nhiệm và khó có tiêu chí nào làm thức đo để đánh giá phẩm chất đạo đức của NNL. Trên cơ sở chất lƣợng nguồn nhân lực nói chung, có thể hiểu chất lƣợng điều dƣỡng viên là “Chất lƣợng điều dƣỡng viên là toàn bộ năng lực của của điều dƣỡng viên đƣợc biểu hiện thông qua ba mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực. Tất cả các mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành nên chất lƣợng điều dƣỡng viên.
Trong đó cả 3 yếu tố thể lực, trí lực và tâm lực đều là yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lƣợng điều dƣỡng viên. Nâng cao chất lượng điều dưỡng viên Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong tổ chức là sự tăng cƣờng sức mạnh, kiến thức và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lƣợng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lƣợng này có thể hoàn thành đƣợc nhiệm vụ trong từng giai đoạn phát triển một tổ chức. Do đó, chất lƣợng nguồn nhân lực trong tổ chức là động lực trực tiếp cho sự phát triển của mỗi tổ chức. 11 Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con ngƣời thông qua đào tạo, bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trƣờng làm việc (phƣơng tiện lao động có hiệu quả và các chế độ chính sách hợp lý,…), kích thích động lực làm việc của ngƣời lao động, để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ đƣợc giao.
Việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là nhân tố quyết định đến sự thành công của một tổ chức. Từ những khái niệm chung về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, có thể đi đến khái niệm nâng cao chất lƣợng điều dƣỡng viên là: “Nâng cao chất lượng điều dưỡng viên trong bệnh viện chính là nâng cao mức độ đáp ứng công việc của điều dưỡng viên trên các phương diện thể lực, trí lực và tâm lực so với yêu cầu cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức”. Trong đó, thể lực ở đây đƣợc hiểu là sức khỏe về thể chất và tinh thần để điều dƣỡng viên có thể làm việc bền bỉ, lâu dài, phục vụ tốt cho bệnh nhân, trí lực bao gồm kiến thức kỹ năng cần thiết để điều dƣỡng viên có thể hoàn thành tốt công việc của mình. Còn tâm lực ở đây đƣợc hiểu cụ thể là thái độ phục vụ và tinh thần trong quá trình phục vụ ngƣời bệnh.
Thực vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ, điều dƣỡng viên phải sử dụng kiến thức, kỹ năng ứng xử và tinh thần trách nhiệm trong công việc để gần gũi, an ủi, động viên giúp đỡ bệnh nhân trong việc duy trì sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, xoa dịu đi nỗi đau về thể chất lẫn tinh thần để có thể chiến thắng bệnh tật. Tiêu chí đánh giá chất lƣợng điều dƣỡng viên trong bệnh viện 1. Tiêu chí về thể lực Thể lực là tình trạng sức khỏe của con ngƣời biểu hiện ở sự phát triển bình thƣờng, có khả năng lao động. Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động của thực tiễn con ngƣời có thể đáp ứng đƣợc đòi hỏi về hao phí sức lao động 12 trong quá trình hoạt động kinh doanh với những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo cho con ngƣời có khả năng học tập và lao động lâu dài.
Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức khỏe cơ bắp trong công việc; thể lực là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực; bởi nếu không chịu đƣợc sức ép của công việc cũng nhƣ không thể tìm tòi, sáng tạo ra những nghiên cứu, phát minh mới. Thể lực của nguồn nhân lực đƣợc hình thành, duy trì và phát triển bởi chế độ dinh dƣỡng, chế độ chăm sóc sức khỏe. Vì vậy, thể lực của nguồn nhân lực phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phân phối thu nhập cũngnhƣ chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Hiến chƣơng của tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nêu: Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần vã xã hội, chứ không phải là không có bệnh hoặc thƣơng tật.
Thể lực là sự phát triển hài hòa của con ngƣời cả về thể chất lẫn tinh thần (sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần). Thể lực là năng lực lao động chân tay; sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh,là khả năng vận động của trí tuệ, biến tƣ duy thành hoạt động thực tiễn. Thể lực có nhiều chỉ tiêu biểu hiện, cơ bản nhƣ: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Thể lực đƣợc hình thành và phát triển bằng con đƣờng di truyền, qua quá trình nuôi dƣỡng và luyện tập, qua rèn luyện thân thể nhƣ: thể dục, thể hình, lao động, kinh doanh… Căn cứ vào những tiêu chuẩn nhất định về trạng thái sức khỏe, ngƣời ta cân, đo, đánh giá để xác định tình trạng sức khỏe ngƣời lao động.
Theo Bộ Y tế Việt Nam, có năm loại sức khỏe: Loại I: Sức khỏe rất tốt, không mắc bệnh tật, các chỉ tiêu sức khỏe tốt 13 Loại II: Sức khoẻ tốt Loại III: Trung bình Loại IV: Yếu Loại V: rất yếu 1. Tiêu chí về trí lực Trí lực đƣợc hình thành và phát triển thông qua con đƣờng giáo dục, đào tạo và thực tế lao động. Trí lực của con ngƣời chính là kiến thức của nhân loại đƣợc mỗi ngƣời tiếp thu, kế thừa và phát triển một cách sáng tạo, có chọn lọc. Bên cạnh đó, trí lực còn thể hiện khả năng tƣ duy khác nhau mỗi ngƣời trong việc vận dụng kiến thức đã học và kinh nghiệm nghề nghiệp vào thực tế.
Trí lực quyết định phần lớn khả năng lao động và sức sáng tạo của con ngƣời. Trí lực bao gồm kiến thức và kỹ năng; do đó, nâng cao trí lực thực chất là nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn và kỹ năng cho ngƣời lao động. Nâng cao trí lực là tìm cách trang bị cho ngƣời lao động những kiến thức mới, nâng cao khả năng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng cho ngƣời lao động để ngƣời lao động có đủ năng lực cần thiết làm chủ đƣợc những trang thiết bị kỹ thuật, khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại; khả năng biến trí thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp thể hiện qua trình độ tay nghề và mức độ thành thạo trong chuyên môn nghề nghiệp, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ. Nâng cao trí lực cần gắn kết, sát thực với chức danh công việc, làm sao để thỏa mãn các yêu cầu tổ chức đề ra, từ đó đi đến hoàn thành mục tiêu chiến lƣợc mà đơn vị đặt ra.
Đánh giá trình độ của ngƣời lao động cần phải xét trên 03 yếu tố, cụ thể nhƣ sau: - Trình độ học vấn: là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản về chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ. Trình độ học vấn 14 là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực. Năng lực trí tuệ của con ngƣời hiện nay biểu hiện ở khả năng sáng tạo.