mở đầu cho sự ra đời và phát triển của phong trào HTX ở Việt Nam. Từ năm 1955- 1961, năm 1960 cả nước đã có hơn 50.000 HTX được thành lập trong các ngành, lãnh vực: nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, ngư nghiệp, tín dụng., thu hút được đại bộ phận hộ nông dân, hộ kinh tế cá thể và người lao động tham gia Từ năm 1961- 1965, phong trào KTHT, HTX tiếp tục được đẩy mạnh. Cùng với việc thực hiện cuộc vận động cải tiến quản lý, xây dựng các HTX bậc cao với quy mô được mở rộng trong lãnh vực nông nghiệp, hàng ngàn HTX trong các lãnh vực phi nông nghiệp được thành lập, thu hút hàng triệu quần chúng nhân dân tham gia. Từ năm 1965- 1975, khu vực HTX được củng cố, phát triển và trở thành một lực lượng kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của hậu phương lớn miền Bắc.
Đến cuối năm 1974, toàn miền Bắc có hơn 46.000 HTX trong các ngành, lãnh vực. Các HTX đã động viên được sự lao động quên mình của các xã viên HTX, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Từ năm 1975- 1997, đến năm 1986, năm được coi là thời kỳ phát triển cao nhất của phong trào HTX, cả nước có 76.000 HTX trong các ngành, lãnh vực kinh tế, thu hút hơn 20 triệu xã viên tham gia. Từ năm 1997 trở lại đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, khu vực KTHT, HTX đã có những biến đổi quan trọng.
Kể từ khi Luật HTX đầu tiên được Quốc hội thông qua cuối năm 1996, có hiệu lực thi hành từ 01- 01-1997 đến Luật HTX 2003 và Luật HTX năm 2012 đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho khu vực HTX phát triển. 13 Nhiều HTX mới được thành lập trong các ngành, lãnh vực kinh tế với các hình thức tổ chức và phương thức hoạt động đa dạng. Nhiều HTX, thành viên tham gia không chỉ bao gồm cá nhân mà còn gồm các chủ trang trại, hộ tiểu chủ, nhà khoa học, các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ và vừa, một số HTX có cả thành viên là doanh nghiệp Nhà nước tham gia.487 HTX đang hoạt động trong tất cả các lãnh vực, trong các HTX mới thành lập có nhiều mô hình HTX mới như HTX y tế, HTX vệ sinh môi trường, HTX nước sạch, HTX dịch vụ tang lễ. Giai đoạn năm 1954 đến trước khi có Luật Hợp tác xã 1996: Để phát triển kinh tế hợp tác xã Đảng và Nhà nước đã ban hành cơ sở pháp lý, cụ thể: Quốc hội đã ban hành Nghị quyết ngày 27/5/1969, Chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp.
Tuy nhiên giai đoạn này hợp tác xã được thành lập không dựa trên nhu cầu thực tế mà theo các quyết định hành chính Nhà nước, vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, đề cao gần như tuyệt đối sở hữu tập thể và sản xuất tập thể. Hợp tác xã phát triển về số lượng song không thể hiện đúng bản chất hợp tác xã. Từ sau 1986, phong trào hợp tác xã bắt đầu thoái trào trong bối cảnh nền kinh tế nước ta chuyển sang kinh tế thị trường. Giai đoạn sau khi có Luật hợp tác xã 1996 đến nay Sau nhiều năm tiến hành củng cố, hoàn thiện tổ chức và quản lý khu vực HTX bằng các văn bản chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ thì năm 1996 Luật HTX đã ra đời và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1997 đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho quá trình đổi mới mạnh mẽ tư duy về bản chất của loại hình tổ chức kinh tế này.
Điểm cơ bản nhất mà Luật HTX năm 1996 đã đổi mới tư duy về bản chất HTX được thông qua định nghãa: “HTX là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp 14 nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động SXKD dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, qua thực thi Luật HTX 1996 đã bộc lộ những hạn chế, trì trệ trong việc phát triển khu vực kinh tế tập thể: hạn chế về đối tượng tham gia HTX, thủ tục đăng ký và thành lập HTX phức tạp, phiền hà, Luật chưa phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn người quản lý và người điều hành hợp tác xã. Điều đó đòi hỏi phải đổi mới hệ thống pháp luật nói chung và Luật Hợp tác xã nói riêng. Để đáp ứng yêu cầu bức thiết của khu vực kinh tế tập thể tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX ngày 18/3/2002 đã ban hành Nghị quyết số 13/NQ-TW “Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”.
Thực hiện nội dung của Nghị quyết, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI Luật HTX 2003 đã được thông qua và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2004. Phải nhìn nhận rằng Luật HTX 2003 đã có những đóng góp nhất định vào quá trình tăng trưởng kinh tế. Tính đến thời điểm hết năm 2006, cả nước có khoảng 17.004 HTX thành lập mới, 8300 HTX chuyển đổi, đóng góp khoảng 6,61% GDP của nền kinh tế7. Trong lãnh vực nông nghiệp, HTX được đánh giá là phương thức tốt nhất để liên kết bốn nhà (nhà nông- nhà doanh nghiệp- nhà khoa học- nhà nước), là chổ dựa của nông dân nghèo.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, HTX cũng gặp một số vấn đề khách quan lẫn chủ quan; đòi hỏi phải xây dựng khuôn khổ pháp lý mới. Từ năm 2006, khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), các quy định của Luật HTX đã trở nên bất cập, hạn chế, “khung pháp luật về kinh tế trong đó có khung pháp luật về HTX cần được sửa đổi, bổ sung phù hợp với kinh nghiệm quốc tế và điều kiện cụ thể của nước ta”8. Mặt khác, qua một số năm tồn tại HTX có chiều hướng suy giảm cả về số lương lẫn chất lượng; phần lớn HTX chưa hoạt động đúng bản chất của kinh tế hợp tác. Có một thực tế là các HTX chuyển đổi không phải là các tổ chức tự nguyện của các hộ 7 (Xem: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Vụ Hợp tác xã) : “Một số nội dung cơ bản chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về kinh tế tập thể” Sách tái bản có sửa chữa, NXBCTQG, 06/2010, Trang 82-83) 8 Xem Tờ trình về dự án Luật HTX (sửa đổi) ngày 03/5/2012.
15 kinh tế cá thể, mà là sản phẩm của các quyết định hành chính. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triên nông thôn, tham gia vào HTX chuyển đổi, phần lớn là xã viên của HTX cũ chuyển sang, không có đơn và vốn góp mới! Vốn từ tài sản cũ chuyển sang HTX mới được chia thành vốn góp của xã viên, chiếm tới 95% tổng vốn. Còn theo Liên minh HTX Việt Nam, trên 90% các HTX này chủ yếu do các cấp uỷ, chính quyền cơ sở chỉ đạo, bố trí cán bộ, sắp xếp tổ chức! Nguyên tắc: “HTX là các tổ chức tự chủ, tự giúp đỡ, độc lập, được kiểm soát bởi các thành viên” đã bị phá vỡ! Xã viên, vì vậy, trở thành khách chứ không phải là người chủ của HTX! Có thể tổng kết ngắn gọn rằng: mô hình HTX vẫn chưa thoát khỏi cái bóng của HTX kiểu cũ. Vì vậy vấn đề được đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta cần sửa đổi Luật HTX để phù hợp tình hình thực tiễn và khắc phục những hạn chế bất cập Luật HTX 2003.
Tại kỳ hợp lần thứ 4 Quốc hội khóa XIII đã thông qua ngày 20/11/2012 và ban hành Luật hợp tác xã số 23/2012/QH13( Luật HTX 2012) và có hiệu lực từ 01/07/2013.2 Những nội dung cơ bản của Luật Hợp tác xã 2012 Luật HTX 2012 gồm 9 chương 64 Điều, Luật HTX 2012 đã thể hiện được những tiến bộ so với Luật HTX 2003 để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động tốt hơn. Điểm khác biệt quan trọng nhất của Luật HTX 2012 là đã thể hiện rõ nét bản chất đích thực của hợp tác xã so với các tổ chức từ thiện, loại hình tổ chức kinh tế khác đặc biệt là doanh nghiệp. Là tổ chức kinh tế do các thành viên tự nguyện thành lập ra nhằm tối đa hóa lợi ích của các thành viên. Lợi ích đó vừa là lợi ích kinh tế, vừa là lợi ích xã hội, lợi ích các thành viên còn doanh nghiệp hoạt động theo nguyên tắc đối vốn với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp và cho góp vốn của chủ sở hữu.
Khoản 1 Điều 3 Luật HTX 2012 quy định: “ Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm 16 nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”. Đặc điểm của hợp tác xã Từ định nghĩa trên, có thể chỉ ra một số đặc điểm pháp lý của HTX. Những đặc điểm này, một mặt tuy không xa rời những nguyên tắc chung của hoạt động doanh nghiệp, mặt khác phải cho thấy tính chất đặc thù của HTX. Hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính hợp tác, tính tương trợ và xã hội.
HTX không phải là một tổ chức xã hội mà chỉ mang tính xã hội; có vai trò thúc đẩy sự hợp tác giữa các thành viên trong cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu lợi ích chính đáng của thành viên. Tính chất này thể hiện ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX. Đối tượng tham gia HTX, do vậy, rất rộng và đa dạng về thành phần. Đây là một môi trường phù hợp với số đông người lao động, đặc biệt trong lãnh vực nông nghiệp và sản xuất kinh doanh nhỏ.
Ưu điểm nổi bật này của HTX giải thích vì sao từ trước đến nay nhà nước luôn coi trọng và tạo điều kiện hỗ trợ để mô hình HTX tồn tại và phát triển. Trên bình diện rộng hơn, nếu tổ chức tốt, HTX có thể hỗ trợ nhau trong những phân khúc thị trường mà các nhà đầu tư nước ngoài và những doanh nghiệp lớn không chi phối đến.