Chương 1. Lý luận cơ bản về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng. Quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Giải pháp hoàn thiện và thực thi các quy định của pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1. Khái quát về hành vi cạnh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng 1. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh Các chủ thể kinh tế trong đó bao gồm các tổ chức tín dụng cũng không nằm ngoài áp lực cạnh tranh. Để có được thị phần, các tổ chức tín dụng cũng không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, năng lực quản trị cũng như phát triển công nghệ.
Không ai có thể phủ nhận được yếu tố tích cực của cạnh tranh. Sự cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng sẽ làm cho các sản phẩm tài chính được đa dạng hoá với chất lượng ngày càng tốt hơn, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng cũng góp phần làm cho hệ thống ngân hàng của quốc gia phát triển bền vững, tránh được rủi ro hệ thống. Tuy nhiên, trong quá trình cạnh tranh, không phải tổ chức tín dụng nào cũng tuân thủ nghiêm chỉnh các chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật.
Không ít các tổ chức tín dụng sử dụng các thủ đoạn, phương pháp cạnh tranh trái với chuẩn mực đạo đức kinh doanh nhằm đạt được lợi thế hơn so với các đối thủ. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là hành vi cạnh tranh của tổ chức và cá nhân có liên quan đến hành vi canh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng vì quá chạy theo mục tiêu lợi nhuận mà trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, có nguy cơ gây tổn hại hoặc gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khác. Với quan niệm này dấu hiệu quan trọng để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh là “vì quá chạy theo mục tiêu lợi nhuận” mà thực hiện các hành vi vi phạm “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh”, với quy định này, Dự thảo Nghị định đã thu hẹp quá nhiều nội hàm khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng. Thực tế cho thấy, việc thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể trên thị trường không phải lúc nào cũng vì mục tiêu 8 lợi nhuận.
Trong thực tế, để gây khó khăn cho đối thủ cạnh tranh tức là thực hiện hành vi nhằm mục đích không lành mạnh, các chủ thể kinh doanh đã “hi sinh mục tiêu lợi nhuận” thì về bản chất các hành vi cạnh tranh không vì mục đích lợi nhuận vẫn được coi là không lành mạnh. Bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những thủ pháp/phương thức thực hiện hành vi cạnh tranh với tính chất là không công bằng, không lành mạnh, trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh có khả năng gây hại tới quyền lợi đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Để đi đến thống nhất quan niệm về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng – một lĩnh vực kinh doanh cụ thể trong nền kinh tế mà thực chất là quá trình đi tìm điểm khác biệt về thủ đoạn, phương thức thực hiện cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng. Điểm khác biệt cơ bản giữa cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng với các lĩnh vực khác là ở đối tượng bị hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm là các tổ chức tín dụng, người tiêu dùng cũng như yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng gắn liền với các dịch vụ ngân hàng mà tổ chức tín dụng được phép cung ứng.
Bản chất của cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là hành vi của các tổ chức tín dụng phát sinh trong hoạt động ngân hàng, trái pháp luật cạnh tranh, trái với các chuẩn mực đạo đức, tập quán kinh doanh ngân hàng, gây thiệt hại hoặc có khả năng thiệt hại cho tổ chức tín dụng là đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan; xâm phạm quyền lợi người sử dụng dịch vụ ngân hàng một cách không chính đáng thông qua việc lạm dụng quyền quyết định cấp tín dụng hoặc gây cản trở khách hàng tiếp cận dịch vụ ngân hàng, không cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin liên quan đến dịch vụ ngân hàng nhằm thu lợi hoặc thu hút về phía mình lượng khách hàng một cách bất chính/không chính đáng. Cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là các hành vi cụ thể, đơn phương của tổ chức tín dụng nhằm mục đích cạnh tranh, có khả năng gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đối thủ cạnh tranh, làm rối loạn hoạt động bình thường của tổ chức tín dụng bị xâm phạm, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến chức năng cung ứng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, môi trường kinh doanh ngân hàng. Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh 1. Cung cấp thông tin dễ gây hiểu lầm có hại cho các tổ chức tín dụng và khách hàng khác Trong hoạt động thương mại nói chung, việc cung cấp thông tin dễ gây nhầm lẫn thường liên quan tới sự không rõ ràng về việc nhận dạng nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, ví dụ thông tin khiến khách hàng nhầm lẫn trong việc xác định xuất xứ hàng hóa Trong hoạt động ngân hàng, việc cung cấp thông tin thông tin gây hiểu lầm có thể được thể hiện như: a/ Sử dụng các tên gọi, logo, chỉ dẫn địa lý dễ gây nhầm lẫn với các tổ chức tín dụng nước ngoài, khiến cho khách hàng tưởng nhầm dịch vụ đó do tổ chức tín dụng uy tín hoặc nổi tiếng cung cấp b/ Cung cấp thông tin sai sự thật về các chiến lược trong tương lai với các đối tác nước ngoài như: đối tác nước ngoài mua cổ phần, ký kết hợp đồng hợp tác cung cấp dịch vụ… khiến cho khách hàng lầm tưởng vào khả năng tài chính, khả năng kinh doanh của tổ chức tín dụng 1.
Xâm phạm bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng Theo điều 3 khoản 11 Luật cạnh tranh thì bí mật kinh doanh là thông tin thỏa mãn các điều kiện sau: (i) Không phải là hiểu biết thông thường và đạt được bằng cách thông thường; (ii) Giúp người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn những người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó; (iii) Được người chủ sở hữu bảo mật bằng các biên pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được. Xuất phát từ quy đinh chung này, bí mật kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm những bí mật liên quan đến hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng (trừ những bí mật mà theo qui định của pháp luật phải công khai), bí mật liên quan đến tài khoản của khách hàng. Những thông tin liên quan đến chiến lược phát triển của tổ chức tín dụng, các hợp đồng, giao dịch, tình hình tài chính….đều được coi là những bí mật kinh doanh. Ngoài ra, những thông tin liên quan đến khách hàng gửi tiền (ví 10 dụ số dư tiền gửi của khách hàng, các giao dịch phát sinh trên tài khoản của khách hàng) cũng được coi là thông tin mật và pháp luật ngân hàng ràng buộc trách nhiệm của tổ chức tín dụng phải giữ bí mật thông tin này trừ trường hợp phải tiết lộ theo yêu cầu của cơ quan pháp luật có thẩm quyền (khoản 3 điều 17, điều 101 Luật các TCTD) Các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng có thể bao gồm: a/ Tiếp cận thông tin, phá hệ thống bảo mật của tổ chức tín dụng nhằm chiếm đoạt những thông tin bảo mật của tổ chức tín dụng b/ Tiết lộ những thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng mà không được phép c/ Lừa gạt, mua chuộc, lợi dụng lòng tin của nhân viên bảo mật của tổ chức tín dụng cạnh tranh nhằm thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng này d/ Tiếp cận thông tin, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng khi tổ chức tín dụng này làm các thủ tục hành chính nhà nước, (ví dụ đăng ký thêm loại hình dịch vụ ngân hàng), hoặc dùng các biện pháp thâm nhập hệ thống thông tin bảo mật của cơ quan nhà nước để chiếm đoạt thông tin về tổ chức tín dụng khác nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh doanh của mình 1.
Ép buộc khách hàng trong kinh doanh Điều 42 Luật cạnh tranh cấm doanh nghiệp ép buộc khách hàng ngừng giao dịch với doanh nghiệp khác hoặc không giao dịch với doanh nghiệp đó. Hành vi ép buộc khách hàng xảy ra khi doanh nghiệp lạm dụng vị trí của mình để đưa ra những yêu cầu không hợp pháp đối với khách hàng nhằm ràng buộc khách hàng chỉ giao dịch với mình. Trong hoạt động ngân hàng, hành vi ép buộc khách hàng có thể thể hiện trong việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng kèm theo các điều kiện bất hợp lý như: chỉ được sử dụng các dịch vụ kèm theo do ngân hàng đó cung cấp hoặc phải mở tài khoản duy nhất ở ngân hàng đó mà không được có tài khoản ở ngân hàng khác… Hành vi của ngân hàng trong những trường hợp này bị coi là vi phạm quyền lợi của khách hàng trong việc lựa chọn dịch vụ mình cần cũng như vi phạm quyền tự do kinh doanh của các tổ chức tín dụng khác 1. Gièm pha tổ chức tín dụng khác 11 Điều 43 của Luật Cạnh tranh quy định gièm pha các doanh nghiệp khác là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực gây ảnh hưởng xấu tới uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đó.