Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐẤT ĐAI 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ KHIẾU NẠI ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI 1. Khái niệm, đặc điểm của khiếu nại về đất đai 1. Khái niệm khiếu nại về đất đai Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của khiếu nại về đất đai, trước hết cần hiểu rõ về khiếu nại - Khái niệm khiếu nại Khiếu nại là một hiện tượng xã hội được hiểu theo nhiều góc độ, trong tiếng Latinh, khiếu nại (complaint) có nghĩa là việc phản ứng, phàn nàn bất bình của chủ thể nào đó đối với vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình.
Dưới góc độ xã hội, khiếu nại được hiểu là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội, là sự phản ứng có tính tự nhiên của một chủ thể đối với hành vi của chủ thể khác khi họ cho rằng hành vi đó không phù hợp với các chuẩn mực, quy tắc trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình. Dưới góc độ chính trị - pháp lý, khiếu nại được coi là một nội dung quyền tự do, dân chủ của công dân được Nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng pháp luật. Khiếu nại là phương tiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, phản ánh giá trị của nền dân chủ của một quốc gia. Trong mối quan hệ giữa Nhà nước - chủ thể quản lý với công dân - đối tượng quản lý thì khiếu nại là sự phản ứng của đối tượng quản lý đối với chủ thể quản lý về hoạt động quản lý của nhà nước, của nhân viên nhà nước.
Do đó, khiếu nại là kênh thông tin ngược của đối tượng quản lý với chủ thể quản lý về những tồn tại khuyết điểm của hệ thống quản lý nhà nước. Thông qua khiếu nại và giải quyết khiếu nại, nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy và hoàn thiện hoạt động quản lý của mình. Khiếu nại là một kênh thông tin có giá trị chân thực, khách quan phản ánh hoạt động của bộ máy nhà nước. 15 Theo Từ điển Tiếng Việt: “Khiếu nại là thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y” (Nguyễn Như Ý,1999, tr.
Theo sách 3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông: “Khiếu nại là việc yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc người có chức vụ giải quyết việc vi phạm các quyền hoặc lợi ích hợp pháp của bản thân người khiếu nại hay người khác” (Nguyễn Ngọc Điệp 2008, tr. Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” (Điều 30, Hiến pháp 2013). Khiếu nại được xem như là một phản ứng của con người trước một quyết định, một hành vi nào đó mà chủ thể khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó là không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Cụ thể hóa quyền khiếu nại của công dân, Khoản 1, Điều 2 của Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.
Từ những quan điểm trên, có thể thấy rằng khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Ở đây có thể hiểu, khiếu nại là quyền, là hành vi của các chủ thể như cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân. Hoạt động giải quyết khiếu nại là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước và chỉ được thực hiện bởi người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Quyền khiếu nại của công dân xuất hiện trong mối liên hệ với quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
Khi công dân thực hiện quyền khiếu nại chính là quá trình cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các tài liệu, chứng cứ về sự vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân từ phía cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước. 16 - Khái niệm khiếu nại về đất đai Thời gian gần đây, tình hình khiếu nại của công dân có những diễn biến phức tạp, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý về đất đai. Khiếu nại liên quan đến lĩnh vực đất đai của công dân phát sinh ở hầu khắp các địa phương và có chiều hướng gia tăng, tính chất ngày càng phức tạp. Ở nhiều nơi, khiếu nại liên quan đến lĩnh vực đất đai trở thành các “điểm nóng”, các cuộc khiếu nại đông người xuất hiện ngày càng nhiều.
Để luật hóa và phát huy quyền khiếu nại của công dân, Luật Đất đai năm 1993 thừa nhận giá trị quyền sử dụng đất và công nhận các quyền sử dụng cho người sử dụng đất, mở rộng quyền dân chủ của người sử dụng đất trong công tác thu hồi đất và công tác bồi thường, hỗ trợ - tái định cư. Trên cơ sở đó, Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục khẳng định các quyền của người sử dụng đất. Trên cơ sở các văn bản luật đó đã tạo cơ sở hành lang pháp lý cho các quyền khiếu nại của công dân về đất đai. Luật Đất đai không đưa ra khái niệm khiếu nại về đất đai nhưng từ khái niệm về khiếu nại nêu trên, người viết cho rằng khiếu nại về đất đai là việc công dân - người có quyền sử dụng đất hợp pháp đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về đất đai giải quyết các chính sách, chế độ liên quan đến quyền sử dụng đất do có sự vi phạm quyền này.
Đặc điểm của khiếu nại về đất đai - Đặc điểm về chủ thể có quyền khiếu nại: Chủ thể có quyền khiếu nại về đất đai là các chủ thể có quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 2013, bao gồm: “Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức); Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân); Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân 17 phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ; Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư”. (Điều 5, Luật Đất đai 2013) Quyền khiếu nại của các chủ thể sử dụng đất được quy định tại Điều 204, Luật Đất đai năm 2013. - Đặc điểm về người bị khiếu nại: Người bị khiếu nại là cơ quan quản lý nhà nước được giao quản lý về đất đai.
Theo quy định tại Điều 24, Điều 25 – Luật Đất đai 2013; Điều 4, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Khoản 3, Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 43/2014/NĐ-CP, các cơ quan chuyên ngành quản lý đất đai hiện nay ở Việt Nam bao gồm: Thứ nhất: Bộ tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng, thuỷ văn, đo đạc bản đồ trong phạm vi cả nước và quản lý các dịch vụ công trong quản lý và sử dụng đất. Thứ hai: Sở tài nguyên và Môi trường là cơ quan quản lý đất đai ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chức năng quản lý và đo đạc bản đồ, đồng thời chịu sự lãnh đạo về mặt chuyên môn của Bộ tài nguyên và môi trường. Thứ ba: Phòng tài nguyên và Môi trường là cơ quan quản lý đất đai ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có chức năng quản lý nhà nước về đất đai và lĩnh vực môi trường. 18 Cơ quan tài nguyên và môi trường ở địa phương bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng đăng ký đất đai được giao thực hiện một số nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về đất đai.
Thứ tư: Cán bộ địa chính cấp xã là người giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn trong công tác quản lý đất đai. Cán bộ địa chính cấp xã do Uỷ ban nhân dân cấp huyện bố trí. - Đặc điểm về đối tượng khiếu nại: Đối tượng của khiếu nại về đất đai là các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai.