Chương 1: Khái quát chung về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu hồi nợ và pháp luật điều chỉnh. - Chương 2: Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu hồi nợ. - Chương 3: Thực tiễn thi hành và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu hồi nợ. 5 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ THU HỒI NỢ VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 1.
Khái quát chung về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu hồi nợ 1. Khái niệm Điều kiện kinh doanh dịch vụ thu hồi nợ * Khái niệm Dịch vụ thu hồi nợ Để tìm hiểu về khái niệm DVTHN, luận văn cần tập trung làm rõ hai khái niệm bộ phận hợp thành, bao gồm khái niệm “Dịch vụ” và khái niệm “thu hồi nợ”. - Khái niệm Dịch vụ: Theo Từ điển tiếng Việt, Dịch vụ được hiểu là “Công việc trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” [9]. Theo cách định nghĩa này, khái niệm dịch vụ trở lên trừu tượng, khó hiểu.
Tác giả cho rằng, khái niệm “dịch vụ” trong trường hợp này cần được hiểu là một loại ngành nghề kinh doanh phi sản xuất, đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội và được hưởng thù lao trên cơ sở thỏa thuận giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ. - Khái niệm thu hồi nợ: “nợ” là một khái niệm phổ thông, gần gũi và được sử dụng phổ biến, rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo Từ điển tiếng Việt, “nợ” được định nghĩa là “Cái vay phải trả” [9]. Với cách định nghĩa này, nợ ở đây đã được hiểu là một loại nghĩa vụ của bên vay với bên cho vay tài sản phát sinh trong mối quan hệ vay tài sản.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, quan hệ tài sản giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức ngày càng trở nên đa dạng, phong phú hơn. Bên cạnh quan hệ vay mượn, giữa các tổ chức cá nhân còn nhiều quan hệ khác có thể làm phát sinh nghĩa vụ trả tài sản cho nhau, như: quan hệ mua bán, quan hệ thuê mướn, quan hệ dịch vụ, quan hệ trao đổi, cho tặng. Và như vậy, với cách định nghĩa về nợ là “cái vay phải trả” sẽ không bao trùm được các quan hệ tài sản phát sinh trong thực tiễn đời sống cộng đồng. Khác với Từ điển tiếng Việt, từ góc độ quản lý nhà nước về ngành nghề kinh doanh DVTHN, Chính phủ đã định nghĩa về nợ như sau: “Nợ” được hiểu là “.nghĩa vụ của các tổ chức kinh tế, cá nhân này phải trả tài sản cho tổ chức kinh tế, cá nhân khác” 6 (Điều 1, Nghị định 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ).
So với định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt, định nghĩa về nợ của Chính phủ đã mở rộng hơn về phạm vi; cụ thể, chi tiết hơn về chủ thể. Về phạm vi của nợ, Chính phủ xác định nợ không chỉ dừng lại ở các khoản nợ vay phát sinh trong quan hệ hợp đồng vay tài sản; nợ có thể xuất hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội thông qua các giao dịch hợp pháp khác nhau [15]. Về chủ thể, Chính phủ giới hạn chỉ những nghĩa vụ trả tài sản của cá nhân, tổ chức kinh tế này với cá nhân, tổ chức kinh tế khác mới thuộc phạm vi điều chỉnh của khái niệm. Các nghĩa vụ trả tài sản của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức khác không nằm trong đối tượng, phạm vi điều chỉnh của khái niệm này.
Từ những phân tích trên cho thấy định nghĩa về nợ của Chính phủ tuy đã rộng hơn cách định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt, nhưng vẫn chưa phải là một định nghĩa có khả năng bao quát nhất về nợ. Song, do tính chất nghiên cứu của đề tài, tính đến thời điểm hiện tại Nghị định 104/2007/NĐ-CP vẫn là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu. Vì vậy định nghĩa này sẽ là cách hiểu được sử dụng thống nhất, xuyên suốt trong quá trình hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ này. Về khái niệm “thu hồi”, thu hồi được hiểu là sự lấy lại, nhận lại, đòi lại một cái gì đó.
Và nếu thu hồi được hiểu là việc lấy lại một cái gì đó thì “thu hồi nợ” có thể được hiểu “là việc lấy lại tài sản mà cá nhân, tổ chức kinh tế này có nghĩa vụ trả cho cá nhân, tổ chức kinh tế khác” còn khái niệm “Dịch vụ thu hồi nợ” được hiểu là “dịch vụ lấy lại, nhận lại, đòi lại tài sản mà cá nhân, tổ chức kinh tế này có nghĩa vụ trả cho cá nhân, tổ chức kinh tế khác”. Bên cạnh khái niệm “thu hồi nợ”, luận văn có sử dụng một khái niệm đồng nghĩa là khái niệm “đòi nợ”. Xét về nghĩa của khái niệm thì cả “thu hồi nợ” và “đòi nợ” đều được hiểu là việc lấy lại tài sản. Và việc thu hồi nợ hay đòi nợ đều là quyền gắn với chủ nợ.
Song xét về căn cứ pháp lý thì hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đều sử dụng khái niệm “đòi nợ”; còn trong đề tài luận văn lại sử dụng khái niệm “thu hồi nợ”. Để nhất quán trong thể hiện kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ sử dụng khái niệm “đòi nợ” khi trích dẫn các quy định pháp luật và sử dụng khái niệm 7 “thu hồi nợ” trong các nội dung còn lại của luận văn. * Khái niệm Điều kiện kinh doanh Theo Từ điển luật học, ĐKKD được hiểu là “Điều kiện mà pháp luật quy định chủ thể kinh doanh cần phải có khi kinh doanh trong một số ngành nghề nhất định” [10]. Với cách diễn giải trong Từ điển Luật học thì khái niệm ĐKKD tuy ngắn gọn, dễ hiểu nhưng chưa cụ thể rõ ràng.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp (khoản 2 Điều 7, Luật Doanh nghiệp 2005) thì ĐKKD được hiểu “là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ ĐKKD, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác”. Mặc dù đến Luật Doanh nghiệp 2014, khái niệm về ĐKKD đã không được đề cập, nhưng trong Luật Đầu tư hiện hành (Khoản 1 Điều 7) đã xác định “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Như vậy, trong mỗi định nghĩa nêu trên thì “ĐKKD” lại được tiếp cận và thể hiện một cách khác nhau. Dưới góc độ ngôn ngữ học, Từ điển định nghĩa thiên về giải thích nội dung nghĩa của từ thì trong Luật Doanh nghiệp 2005, bên cạnh việc giải thích nghĩa của từ, các nhà làm luật còn chỉ ra các hình thức xác nhận doanh nghiệp đáp ứng các ĐKKD thông qua giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề .; còn trong Luật Đầu tư hiện hành, các nhà làm luật lại nhấn mạnh cơ sở, lý do của việc chủ thể tham gia kinh doanh những ngành nghề nhất định phải đáp ứng những điều kiện mà pháp luật quy định.
Mặc dù, mỗi định nghĩa có cách thức và phạm vi tiếp cận, thể hiện khác nhau, song cả ba định nghĩa trên đều hướng đến xác định các tiêu chuẩn cụ thể yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứng nếu muốn tham gia hoạt động kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật quy định phải có ĐKKD. Và để có sự thống nhất trong cách hiểu, luận văn đưa ra định nghĩa về ĐKKD như sau: “ĐKKD là yêu cầu cụ thể do pháp luật quy định mà chủ thể tham gia hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh 8 phải đáp ứng tùy theo loại ngành nghề kinh doanh cụ thể”. Với cách định nghĩa như trên, khái niệm “ĐKKD” có những dấu hiệu nhận biết như sau: - Là yêu cầu cụ thể đối với chủ thể tham gia hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh phải đáp ứng; - ĐKKD phải do pháp luật quy định; - Mỗi ngành nghề kinh doanh khác nhau, ĐKKD có thể khác nhau. Đối với ngành nghề kinh doanh DVTHN, nội dung và giới hạn ĐKKD được tiếp cận trên hai bình diện: Thứ nhất, điều kiện để thành lập tổ chức kinh doanh DVTHN (điều kiện thành lập doanh nghiệp kinh doanh DVTHN).
Đây là điều kiện mà cá nhân, tổ chức khi muốn tham gia thành lập doanh nghiệp kinh doanh DVTHN phải đáp ứng: như điều kiện về vốn, điều kiện về người quản lý .; Thứ hai, điều kiện để doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh DVTHN tổ chức hoạt động kinh doanh DVTHN trên thực tế. Khác với nhiều ngành nghề kinh doanh có điều kiện khác, ngành nghề kinh doanh DVTHN sau khi được cấp GCNĐKKD, doanh nghiệp không đương nhiên được đi vào hoạt động. Doanh nghiệp muốn tổ chức hoạt động trên thực tế phải tiếp tục đáp ứng những điều kiện tiêu chuẩn khác như: điều kiện tiêu chuẩn về người lao động, điều kiện tiêu chuẩn về khoản nợ thu hồi. Từ những khái niệm bộ phận được trình bày trên, khái niệm về ĐKKD DVTHN được hiểu như sau: “ĐKKD DVTHN là những tiêu chuẩn, yêu cầu cụ thể do pháp luật đặt ra buộc các chủ thể phải đáp ứng khi tham gia hoạt động kinh doanh DVTHN”.
Đặc điểm Điều kiện kinh doanh dịch vụ thu hồi nợ * Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành ĐKKD DVTHN là những tiêu chuẩn, yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp phải đáp ứng nếu muốn đăng ký và được cấp GCNĐKKD DVTHN. Các tiêu chuẩn, yêu cầu đặt ra luôn hướng đến xây dựng môi trường kinh doanh ổn định, lành mạnh, kích thích và thu hút sự đầu tư sản xuất, kinh doanh trong xã hội. Các tiêu chuẩn, 9 yêu cầu này không phải tự nhiên mà có, cũng không phải do doanh nghiệp muốn hoặc tự đặt ra. Các điều kiện, tiêu chuẩn đặt ra xuất phát từ yêu cầu công tác quản lý nhà nước về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.